So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

        ĐÔNG DƯỢC BẢO LONG - TOP 10 THƯƠNG HIỆU HÀNG ĐẦU VIỆT NAM
                 CHỨC NĂNG NGÀNH NGHỀ CHÍNH:

             
1. Sản xuất Thực phẩm bảo vệ sức khỏe và Mỹ phẩm thảo dược.
                    2. Kế thừa, nghiên cứu, thực nghiệm và chuyển giao quy trình công nghệ các bài thuốc thuần Việt.               
                    3. Khám chữa bệnh theo phương pháp Y học cổ truyền.
                       TỔNG ĐÀI TƯ VẤN: 02432 007 007 - 094 666 2126 - 0969 767 155

TRUYỆN THƠ: " TÌNH QUÊ "

Ngày đăng : 09:19:16 20-11-2017



Tình quê
Truyện thơ
 
(Nhà xuất bản Hội nhà văn)
***********************************************************************************************
Lời nói đầu

NGHĨ VỀ THƠ, NGHĨ VỀ NGƯỜI
Nhà thơ Vũ Duy Thông
   Do một lẽ tình cờ, tôi có trong tay bản thảo tập truyện thơ “Tình Quê” của Nguyễn Hữu Khai. Một Nguyễn Hữu Khai võ sư có hàng nghìn môn đệ, lừng danh trong giới giang hồ, từng vào sống ra chết khi khám tối, khi dưới rạch bùn sông “Hàm Tử” tôi đã biết. Một Nguyễn Hữu Khai lương y có đẳng cấp, Tổng giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long, vài ba trăm công nhân, thuốc bán ra từng container, nổi tiếng trong, ngoài nước tôi cũng đã biết. Nhưng còn một Nguyễn Hữu Khai thơ thì hơi bất ngờ.
   Hoàn toàn không hiểu một thói quen cố hữu của các nhà thơ là rất lười đọc người khác và càng dè dặt hơn khi giới thiệu một tập thơ đầu tay. Khai bình thản đề nghị: “Anh viết cho em lời nói đầu tập thơ sắp in. Vài hôm nữa em xin” không một chút rào đón. Tôi mỉm cười ừ hữ định bụng rồi mọi chuyện cũng sẽ qua...
   Tập bản thảo để trên bàn tôi khá lâu. Đột ngột một ngày Hà Nội chớm đông. Mở cửa sổ nhìn ra, cây bàng trong khuôn viên đỏ bầm, lá rụng hối hả. Tôi lật vài trang đầu, lững thững đọc mấy dòng cuối cùng:
Thực tình nghèo vốn, giầu lòng
Miệt mài kiếm chọn viết xong chuyện này
Tạm vui trong lúc nghỉ tay
Cùng người đồng cảnh giãi bày tâm tư
Lời lẽ khi thiếu khi dư
Khen, chê xin nhận, cũng như cho vàng!
   Mấy câu thật thà mà sao cứ thấy nhoi nhói trong lòng. Thơ bây giờ thất tình giả, đau đớn giả, cô đơn giả bừa bộn, nghe lời nói thật là nhận ra ngay. Tôi lật lại trang đầu và bắt đầu đọc. May sao, đọc được một hơi và càng đọc càng ưa.
   ... Xin đừng tìm ở đây một áng thơ trác tuyệt của người dày dạn với nghề. Không mảng miếng kỹ thuật tân kỳ, không những ý tưởng loé sáng, đôi chỗ còn láng máng như tập giọng Truyện Kiều, đôi chỗ còn ép vần, đôi chỗ còn sai lỗi chính tả. Một truyện thơ với cốt truyện giản dị có thể tóm lược ngay được như mọi truyện Nôm khuyết danh Phạm Tải – Ngọc Hoa, Phan Trần, Tống Trân – Cúc Hoa ông bà ta xưa vẫn kể. Nhưng càng đọc “Tình Quê” càng cảm động. Ta như được trở về với một vùng quê chân chất, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Ta như sống lại thời ba bốn chục năm trước ta đã sống. Nơi ấy có nô nức ngày hội tòng quân, trai làng khai gian tuổi, cho đá vào túi quần mong đủ cân để nhập ngũ. Nơi ấy chàng trai ra trận, cô gái ở nhà chăm mẹ người yêu như phận dâu con. Nơi ấy hợp tác xã kiến thiết đồng ruộng, khai hoang phục hóa  dưới bàn tay chèo lái của người con gái Ba Đảm Đang. Nơi ấy có rất nhiều nước mắt mà không bi lụy, nhiều mối tình éo le, trắc trở kể cả nhường vợ chưa cưới cho bạn mà vẫn đằm thắm, trong sáng tình người. Truyện vừa mới ngày nào thôi mà cứ như là trong cổ tích, một thứ ngày xưa ngay trong hiện tại khiến ta day dứt, tiếc nuối.
   Đúng là đã có một ngày xưa như thế, Nguyễn Hữu Khai chỉ việc kể ra như thế với bạn về chính đời mình. Điều khiến tôi ngạc nhiên là sức mạnh nào đã giúp một con người từng bị tù tội, bị đày ải giữa đám người thú, bị chà đạp dưới bao bất công nhan nhản trong hầm giam, giữa rừng sâu, bến xe, quán chợ, gầm cầu mà vẫn gìn giữ được tình yêu trong sáng đến thế, vững chắc đến thế với cuộc sống, con người, đất nước để viết ra những chữ chan chứa yêu thương.

Người người lặng lẽ lắng nghe
Tiểu sử liệt sĩ lòng se, dạ sầu
Tiếng đọc nghèn nghẹn từng câu
Câu trước chưa rõ, câu sau đã mờ
Nỗi niềm lai láng, vật vờ
Căm thù, thương xót rối tơ trong lòng
... Thường khi đánh bại quân thù
Khểnh lưng trên chiếc võng dù ngắm trăng
Gió reo như nhủ thầm rằng
Thù chung đã trả, ở đằng sau ta...
Vui cảnh lại nhớ quê nhà
Nhìn núi lại nhớ mẹ già xa xôi
... Bóng rơm ấp ủ đàn gà
Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre
Tiếng ve ra rả gọi hè
Dọc đường phượng vĩ đỏ hoe nắng tà.

 
   Thực lòng, tôi muốn trích thêm nữa, không hẳn vì đó là những câu thơ hay mà bởi làm được những câu thơ hay đã khó, sống hay được còn khó gấp bội.
   Trong khi có nhiều người tự coi mình đức cao, đạo trọng, cũng từng cơm lính chiến trường, từng hết lời cám ơn những ngày gian khổ, bỗng làm bộ mặt rầu rĩ, ủ ê, tự khoác vào bộ áo hợp mốt thương vay khóc mướn cho một thời binh lửa thì “Tình Quê” viết ra năm 1998 tại TP Hồ Chí Minh kể đúng những gì đã có, nói đúng những gì mình nghĩ. Có lẽ thơ là ở đấy chăng?
   Đọc thơ còn khó hơn làm thơ. Tôi đọc “Tình Quê” với sự thích thú. Chính mình cũng bất ngờ, giống như được xem tranh của thiếu nhi, nghe chèo ở xã hoặc ngồi trước màn rối nước. Thô mộc đấy mà sao hồn nhiên, tươi tắn, thuần khiết như chính dân gian. Hãy gỡ bỏ cặp kính hàn lâm ra, cái cặp kính khiến ta nhiều lúc khốn khổ vì nhìn đâu cũng thấy nhàm chán, tầm tầm, ta sẽ bắt gặp ở đây một thế giới của Thầy đồ các, Lợn ăn lá dáy, Chú Tiểu, Thị Màu, Người về con nhện giăng mùng... ngộ nghĩnh mà thâm trầm. thơ Nguyễn Hữu Khai rất giàu chất dân dã, nhất là khi anh thoát được sự kiềm tỏa của những bóng đại thụ. Tôi rất thích những câu thơ như thế này:
Chung tình, trọn nghĩa trước sau
Quên mình đi để vì nhau mới là
Lời người nước lướt lá khoai
Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương
Ngẫm mình đâu phải con tằm
Mà rút hết ruột rồi nằm bó thân
Rơm cháy thi sáng với đèn
Lưỡi lửa léo lắt liếm đen trôn nồi
Nếu thành vẫn vững như đồng
Hỏi rằng: Nền sụt thành sông hỡi thành?
Đành rằng ép có thể trôi
Lại e vung hở thì nồi sống cơm.
Gà gáy đâu phải đã to
Mà thấy trời sáng tưởng do tiếng mình
Có răng thì để răng nhai
Không răng thì lấy lợi mài cũng xong
Chẳng duyên nên nghĩa nên thân
Lòng mây xin được luôn gần núi non
 Lòng ấy muốn giữ một màu
Thì đừng nên để dồn đau lòng này

 
   Ca dao, dân ca phôi thai từ đấy chứ đâu? Vào lúc tôi viết những dòng này, Khai đang tất tả ở Bangkok để viết bài cho một tờ báo về Á Vận Hội thể thao lần thứ 13. Anh bạn này đến lạ, cái gì cũng đam mê, từ bắt mạch, kê đơn, châm cứu, múa võ trường đao, đoản kiếm, khai phá đồn điền, kinh doanh sản xuất, viết văn, viết báo và... làm thơ. Lạ hơn nữa, không việc nào Khai không vắt kiệt sức mình, không hết lòng. Người thế thì lận đận là phải, đèo bòng đa mang chữ tình là phải.
Còn với thơ, tôi xin lấy một đời nghề của mình để nói rằng anh chẳng thể sống bằng danh tiếng và tiền bạc từ thơ đâu, nhưng thiếu những người như anh thơ sẽ buồn tẻ đi nhiều lắm.
Tháng 12 năm 1998
V.D.T
 
Tình quê
           Đa già rủ mát chân đê
     Che làng nho nhỏ bên lề núi xanh
              Êm đềm sông Đáy lượn quanh
     Dập dìu thuyền nhún méo vành trăng thu
           Nhớ ngày bom ngắt lời ru
     Nát hoa, đục nước bóng thù vởn mây
              Chim thơ, lửa xối tan bầy
     Sập cầu nát chợ, gẫy cây, đổ trường
              Những con yêu của quê hương
 Náo nức tình nguyện lên đường tòng quân

              Đình làng người đứng đầy sân

     Tiếng người rộn rã, đo, cân phòng đầu
Ai đây? À! Cái thằng Hùng!
Bốn hai cân rưỡi, tính chung cả bì

*
*     *

Trai gái ríu rít bên nhau:
     “Việc gì sốt ruột, trước sau một lần!
        “Cái Nga khéo lại thiếu cân
     “Mày không có vở, mất phần như chơi
              “Cái Dung sắp gọi đến nơi
     “Gài cho cẩn thận kẻo rơi bây giờ!”
              “Yên chí đừng có lo chi
     “Mà bé mồm chứ không thì lộ tung!
              “Ai đây? À! Cái thằng Hùng!
                                                             “Bốn hai cân rưỡi, tính chung cả bì (1)                                               
Long rằng: “Sao nó nặng nhì!

     Chắc là nó lại giắt chi trong người? “
         Nghe nói ran những tiếng cười
     Quang cân nhún nhảy, đảo người cân theo
              Cậu Hùng hai mắt nheo nheo
     Phải trả nợ nó keo này cho xong
              Rằng: “Tớ đâu phải cậu Long
     “Lưỡi cày, lưỡi hái giắt trong cạp quần
              “Ăn gian rồi vẫn mất phần
     Đủ cân thì mắt nhìn gần vẫn sai”
              Long ta đỏ mặt tía tai
     Vội vàng lủi mất, khỏi ai chê mình
        Tiếng la như vỡ nóc đình

     “Tóm thằng Long lại phê bình mày ơi!”
              “Ồ! Nó té chạy mất rồi”
     “Thôi thôi, nó cũng trượt rồi còn chi”
              Đợt này Trình, Phổ được đi
        Hai anh thuộc loại nhất nhì chữ “A” (2)
              Phổ về chưa tới cổng nhà
     Em trai tất tưởi chạy ra đón đường
              “Thế nào có trúng hay không?
     “Hay là lại trượt, chị Hồng cười cho”
          “Yên tâm em chẳng phải lo
     “Huyện đội chấp thuận duyệt cho đi rồi”
              “Thế thì mừng quá đi thôi
     “Khi nào em lớn, em rồi cũng đi
              “Anh ơi họ khám những chi
 “Nhờ người khám hộ việc gì không anh?”
              “Em cứ yên chí học hành
     “Chờ vài năm nữa cũng nhanh thôi mà”
              Giấy báo nay đã tới nhà
     Phổ, Trình hớn hở gần xa thăm chào
          Nhà nào cũng đến, cùng vào
     Vui vẻ tạm biệt xóm Đào thân yêu.
          Còn riêng nhà của người yêu

     Phổ dành cả một buổi chiều đến chơi
              Thăm cha, hỏi mẹ đủ lời
      Ra vườn khựng bước, ngồi chơi bên Hồng
              Trĩu cành mòng mọng nhãn lồng
     Lấp lay, nhún nhảy, bập bồng, đu đưa
              Phổ rằng: “Theo tục lệ xưa
     “Chúng mình đã có trầu đưa khắp làng
          “Duyên tình nay đã rõ ràng
     “Gần nhau thương nhớ, xa càng nhớ thương
              “Ngày mai anh sẽ lên đường
     “Cùng em bày tỏ vấn vương nỗi lòng
              “Từ lâu anh vẫn chờ mong
     “Được cầm chắc súng, đứng trong đất trời
              “Mơ xưa nay đã tới nơi
     “Được góp sức nhỏ giữ trời tự do
               “Gian nguy anh chẳng hề lo
     “Vì dân, vì nước giữ cho trọn tình
         “Nay mai đất nước hòa bình
     “Khắp nơi đời sống dân mình lên cao
              “Xóm làng ánh điện thay sao
     “Trâu ung dung nghỉ, ruộng trao máy cày
              “Vui nào hơn được vui này
      “Duyên ta khi ấy, chính ngày trọn vui
“Em ơi! Nhớ nhé đừng buồn!
     “Đảm đang tay gái, phải luôn sẵn sàng
              “Dốc lòng xây dựng xóm làng
     “Cho quê ta được ngày càng đẹp tươi”
         Lọt tai, Hồng mỉm miệng cười
     Rằng: “Em cũng những lo người ra đi
              Chiến trường gian khó một khi
     “Anh ơi đừng có tỏ gì bi quan
              “Quên mình vì nước lo toan
      “Mong anh trí, dũng vẹn toàn cả hai
              “Lòng em mong đợi ngày mai
     “Xuân về duyên thắm nối dài đôi ta!”

              Dập dìu cành phượng cổng nhà
     Vẫy tiễn Hồng, Phổ bước ra ngoài đường
         Đầm sen ngào ngạt tỏa hương
     Khăn, đàn tha thướt, dọc mương tới hồ
              Ngút ngàn mườn mượt nương ngô
     Nắng chiều gieo bạc xuống hồ lăn tăn
              Khoan khoan trên chiếc thuyền nan
    Hồng chèo, Phổ hát, Phổ đàn, Hồng nghe
Khúc đàn gợi nét xuân hè

          Âm thanh dìu dịu, gió nhè nhẹ qua
                   Sóng đàn, sóng nước giao thoa
          Tiết tấu nảy lộc, nở hoa trên cành
            Chuyển làn nhịp lúc một nhanh
          Gió lòng dồn nước hồ xanh dạt dào
                   Liễu xòa đùa nước lao xao
          Liếc nhìn: “Liễu biết thế nào mà yêu?”
                   Trầm trầm lồng lộng gió chiều
   Cao cao, vun vút nâng diều cho ai
                   Suối đàn uốn nước vui tai
          Lách qua khóm trúc, nhành mai gập ghềnh
                   Trong xanh hồ rộng thênh thênh
          Tơ đồng sôi động, bập bềnh thuyền nan
             Sóng âm, sóng nước lan tràn
          Ân tình uyển chuyển ngút ngàn mây trôi
                   Khiến người xao xuyến bồi hồi
          Buông chèo, bỏ lái, lặng ngồi ngẩn ngơ!
                   Sương buông chùm cảnh lờ mờ
    Tiếng chuông lảnh lót nhà thờ ngân reo
                   Quay thuyền, khua động mái chèo
          Phấn ngô, hương lúa, bám theo về
Khiến người xao xuyến bồi hồi
Buông chèo, bỏ lái, lặng ngồi ngẩn ngơ

*
*     *

Hồng lấy vật kỷ niệm ra
          Ấy là: khăn, gối, ấy là: sổ tay
             Khăn thêu đôi cánh chim bay
          Lá cành vẫy tiễn rua dày chỉ xanh
                   Sắc hoa chỉ tím trong lành
          “H, P” hai chữ trong vành trái tim
                   Mặt gối nổi một đôi chim
   Bay trên hoa nở, đường kim dịu hiền
                   Trao tay Phổ đã nhận liền
          Sát vai chuyện nối triền miên đêm dài
                   Trời đà lấp lánh sao mai
          Mà lời tơ vẫn kề tai chẳng dừng
            Ngả người tay với qua lưng
          Ấm đầm hai má, bừng bừng lòng ai
                   Lời ra rung nghẹn một, hai
          Tay nâng, tay níu, ghé tai thầm thì
                   Rằng: “Mai anh đã ra đi
    “Bộ đội thời chiến làm gì có lương
                   “Gọi là chút xíu tình thương
          “Anh cầm mấy chục, đi đường nước nôi!”
                   “Ồ! Anh đã có đủ rồi
          “Em yêu! Giữ lấy chờ khi anh về”
             “Đáng chi, phải đợi ngày về?
          Nhún chân, nũng nịu “Hay chê em nghèo?”
              Mỉm cười, nhún nhảy nhại theo:
          “Anh thương em chứ chê nghèo gì đâu!
              “Chiến trường mưa nắng dãi dầu
    “Thủy chung mãi mãi một màu như xưa”
              Ngập ngừng rê bước tiễn đưa
          Tiếng gà gáy rộn báo vừa canh năm.
                   Sớm mai trời mới tỏ ngày
          Trống làng dồn sấm, cờ bay rập rình
             Tấp nập, náo nức sân đình
          Góc sân Hồng, Phổ tiếng mình, tiếng anh
                   Gói xôi thơm nức đỗ xanh
          Gói tôm rang, gói dưa hành trao tay
                   “Chúc anh mọi việc đều hay
    “Sớm hôm rèn luyện, dạn dày phong ba
                   “Góp phần gìn giữ nước nhà
          “Kiên cường, dũng mạnh, mới là nam nhi”
                   Bồi hồi giây phút chia ly
          Nhìn Hồng, Phổ muốn nói chi lại cười!
            Dưới cờ phần phật đỏ tươi
          Ba lô, túi xách theo người lên xe
                   Lên xe, tay với nắm tay
          Xe đi, tay vẫy rừng tay tiễn chào
                   Rì rì, vun vút, rào rào
   Bánh xe cuốn gió lao xao mặt đường
                   Đắm nhìn mù mịt xa phương
          Ngẩn ngơ cây lá dặm trường cách ngăn
                   Thương người dấn bước nhọc nhằn
          Ở nhà dẫu có khó khăn sá gì
             Viết thư gửi tới một khi
          Phải làm! Để có chuyện gì cho vui
                   Nhớ thương chẳng chút ngậm ngùi
          Bâng khuâng trong lúc ngọt bùi vắng ai
                   Mỗi người làm việc bằng hai
    Đảm đang tay gái, thay trai đi cày
                   Qua đi tháng tháng, ngày ngày
          Hạn, úng, nắng, bão chung tay thắng trời
                   Hậu phương, tiền tuyến xa vời
          Tình yêu, tin tức, nối lời bằng thư
           Đêm trường, Hồng những tương tư
          Phổ chuyển ra đảo đã từ lâu nay
                   Men đâu mà lại thấy say?
          Năm trời dồn lại một ngày dài ghê (3)
                   Nỗi lòng mong nhớ não nề
    Thiu thiu, lại thấy Phổ về trong mơ
                   Ánh đèn leo lắt lờ mờ,
          Ngỡ ngàng, vắng lặng như tờ buồn thay!
                   Biển trời xa cách tới nay
          Sóng xô lớp lớp, đan dày nhớ thương
             Thư tới, Phổ cũng đã tường
          Nhưng sao thấu được mọi đường, mọi nơi
                   Mây giăng ngàn lý xa vời
          Xóm làng, vườn, ruộng, bạn đời nơi nao
                   Thương cha, thương mẹ tuổi cao
   Thân hạc “mưa nắng” lúc nào chẳng hay
                   Một ngày qua biết một ngày
          Gia đình không hiểu giờ nay thế nào?
                   Nỗi thương, niềm nhớ dâng trào
          Viết thư thăm hỏi biết bao tâm tình
             Hỏi rồi, lại kể chuyện mình
     Vẽ tranh phong cảnh đẹp xinh biển trời:
                   “Mây in mặt nước ngời ngời
          “Tựa ai chải tóc, ngồi nơi xa nhà
                   “Sóng bạc chuyển chiếc lược ngà
    “Tóc dài, dài mãi xa xa chân trời
                   “Vững vàng đứng giữa biển khơi
          Ấy là hòn đảo chính nơi anh hùng
                   “Đội trời chặn sóng vẫy vùng
          “Ngăn lũ cướp biển, phá tung hạm tàu
            “Dìm chúng xuống tận đáy sâu
          “Cho biển mãi mãi một màu trong xanh
                   “Nay con đã được trưởng thành
          “Một trong những đứa con anh hùng này.
                   Tin vui chiến thắng rộn ràng
    Tưng bừng trong xóm, ngoài làng cờ hoa
                    Máy bay “Thần sấm”, “Con ma”(4)
          Sứt đầu, cụt cánh hóa  ra thần sầu
                   Chiến hạm, chìm dưới biển sâu
Bộ binh Mỹ, Ngụy như trâu, bò lồng
            Chiến trường thi với ruộng đồng
          Bà con náo nức cấy trồng vụ xuân
                   Cờ bay phất phới xa gần
          Tiếng trống thúc giục bước chân mọi người
                   Khu này rộn tiếng nói cười
    Ấy hội thi cấy người người ra tay
                   Xem ai thắng cuộc hôm nay
          Cấy nhanh, cấy khéo, cấy ngay, thẳng hàng
                   Hăng hái, đấu thủ dàn ngang
          Thoăn thoắt, nam, nữ đều đang trổ tài
            Kìa trông ai cũng như ai!
          Ồ! Nhanh, nhanh quá như hai người làm
                   Nắng trưa nhuộm trắng áo chàm
      Mặt ruộng bùn nhuyễn muốn giam chân người
                   Lá cờ phơi nắng đỏ tươi
   Gió thúc phần phật vui cười khen ai
                   Hân hoan loan báo trên đài
          Danh sách kiện tướng gái trai vây tròn
              Phi lao song lối đường mòn
     Hắt hiu ánh nắng đã tròn bóng cây
             Nhịp cầu nho nhỏ mới xây
          Nước mương cuộn chảy tới đây giật lùi
                   Vo vo, qua cống, sập sùi
          Xốn xang Hồng trộn lo, vui trong lòng
                   Hội thi tay cấy vừa xong
    Chị là kiện tướng một trong ba người
                   Sen cong cuống búp ngậm cười
          Phượng non khép kín sắc tươi là đà
                   Mới vừa bước tới cổng nhà
          Mẹ ra đón ngõ xót xa buồn rầu
             Nghẹn ngào, mẹ nấc từng câu:
          “Thằng Phổ!!! Giấy... báo... đã hy sinh rồi”!
                   Thoắt nghe, Hồng cắn chặt môi
          Khụy chân, chững bước, bồi hồi ruột gan
                   Sập cầu, cành gãy, bình tan
    Đất trời nghiêng ngả, lệ giàn giụa rơi:
                   “Anh ơi muôn dặm xa vời!
          “Em chờ anh nỡ dứt lời hỡi anh?!
                   “Duyên ta chưa tới ngày lành
          “Mà sao hoa lá đã thành gió sương?
            “Hỡi ơi! Sóng bể dặm trường
          “Xương tan, thịt nát vãi vương nơi nào?
                   “Hỡi trời lồng lộng xanh cao!
          “Tơ duyên con trẻ nỡ nào cắt đi?
Nghẹn ngào mẹ nấc từng câu:
“Thằng Phổ!!! Giấy... báo, đã hy sinh rồi”!

*
*     *

                   “Không thương đem đến làm chi?
    “Mà thương còn nỡ chia ly sao đành?
                   “Hỡi trời! Hỡi biển! Hỡi anh!
          “Thôi thôi! Duyên đã tan tành từ đây (5)
                   Lệ sầu đứt nối vơi đầy
          Nhành hoa bão dập, bấy chầy xót xa
            Thương trẻ nhức nhối lòng già
          Dìu con từng bước vào nhà giải khuyên
                   “Con ơi! Bớt nỗi buồn phiền
          “Cảnh chung cả nước phải riêng đâu mình
                   “Đã là trọn nghĩa, trọn tình
   “Người tuy khuất bóng, nghĩa mình còn đây
                   “Giữ hoa, khỏi phụ hồn cây
          “Trên nhà hai cụ cũng đầy đau thương (6)
                   “Nén lòng giữ nét bình thường
          “Con lên trên ấy liệu đường nói năng
            “Nới chùng trong lúc dây căng
          “Lựa lời an ủi, san bằng sầu đau
                   “Chung tình, trọn hiếu trước sau
          “Quên mình đi để vì nhau mới là”
                   Nghe lời mẹ nhủ đượm đà
   Hồng đà cố nén xót xa buồn rầu
     Thấm lệ ngồi lặng hồi lâu

          Chít khăn, khuất nỗi âu sầu phía sau
                   Cành nghiêng lá tướp, hoa nhầu
          Ráo mi nước mắt luồn sâu đáy lòng
             Lối quen nắng dội loáng dòng
          Mái xưa tường cũ rêu phong lờ mờ          
                   Trong nhà người những bơ phờ
          Thương thay mẹ Phổ vật vờ nhầu dưa
                   Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa
   Ngất đi, tỉnh lại, lại mưa dầm dề
                   Khóc than lúc tỉnh lúc mê
          Nào người, nào cảnh nặng nề sầu đeo
                   Đất trời cũng phải sầu theo
          Mèo con khàn tiếng meo meo lách luồn
            Bà con khuyên giải đau buồn
                                       Lửa phiền càng dập, càng cuồn cuộn lên                             
         Hồng vẫn đứng lặng một bên

          Mái nhà chao đảo đè lên đỉnh đầu
                   Bà mẹ lại ngất hồi lâu
    Hồng nâng mẹ dậy lấy dầu cao xoa
                   Nén tâm tràn mắt lòa nhòa
          Liễu lòng oằn nhức, muối chà, thiết dây
                   Ôm mẹ biết nói gì đây?
          Nước mắt luồn cổ nghẹn đầy đau thương
            Sương đêm phủ xuống hội trường
          Lễ đài truy điệu đau thương khôn cầm
                   Nến, đuốc sáng tỏ khói trầm
          Dân làng gạt lệ, khóc thầm hồi lâu
                   Chiêu hồn nhạc cử não sầu
   Dưới đài, vàng trắng rũ nhàu vòng hoa
                   Lấp lay ánh mắt lệ nhòa
          Chớp đi, nước thoắt chảy qua lại đầy
                   Đất rung xào xạc lá cây
          Vầng trăng nhờn nhợt, mây dày khuất che
             Người người lặng lẽ lắng nghe
          Tiểu sử liệt sĩ ruột se, dạ sầu
                   Giọng đọc nghèn nghẹn từng câu
          Câu trước chưa rõ, câu sau đã mờ
                   Nỗi niềm lai láng, vật vờ
    Căm thù, thương xót rối tơ trong lòng
                   Nén tâm nghe lấy vài dòng
          Tiếng đọc chầm chậm, cũng xong mấy phần:
                   “Tuổi anh hai sáu thanh xuân
          “Rạng danh thiếu uý hải quân anh hùng
            “Người con trọn chữ hiếu, trung
          “Đã hy sinh giữa muôn trùng biển khơi”
                   Sụt sùi, đổ nấc lấp lời
          Run chân, khụy gối ngay nơi lễ trường
                   Hành động thay thế đau thương
   Người người thề quyết noi gương anh hùng
                   Lời thề không đội trời chung
          Sản xuất, đánh giặc sẽ cùng chung tay
                   Sầu đêm lại nối sầu ngày
          Mẹ Phổ vật vã bấy chầy thương con
             Tâm, can ngày một héo hon
          Khóc khô thân trúc, thương mòn mình ve
                   Đớn đau, sầu, tủi nặng nề
          Sớm trưa nước mắt tràn trề chan cơm
                   Xóm làng khuyên cũng chả sờn
    Chỉ ông mới tỏ nguồn cơn nỗi nhà
                   Đêm ngày thủ thỉ cùng bà
          Đứt ruột, ông vẫn tỏ ra bình thường
                   Tìm phương tính kế mọi đường
          Lựa lời, lựa ý, tỏ tường, lọt tai
             Lời người nước lướt lá khoai
          Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương
                   Ông rằng: “Ai chẳng xót thương!”
          “Chiến tranh mất mát lẽ thường xảy ra
                   “Xót xa đâu phải riêng ta
    “Đau thương, thù giặc trăm nhà sục sôi
                   “Dẫu sao sự cũng đã rồi
          “Bà đau thì cũng như tôi khác gì!
                   “Nhưng ta cần phải quên đi
          “Thương con còn phải biết vì các con
             “Chăm lo những đứa đang còn
          “Mình sầu quá nỗi héo hon lợi gì?
                   “Hy sinh vì nước sá chi
          “Nước mà hết giặc, nhà thì mới vui
                   “Mong bà bớt nỗi tùi ngùi
    “Thương tôi, bà hãy cố vui tôi mừng!”
                   Bà nhà khóe mắt rưng rưng
          Dựa vách, níu cửa đã ngừng khóc than
                   Ông nhà lẳng lặng bên bàn
          Rít một hơi thuốc, thở tan nỗi sầu.
            Hồng vẫn đứng đấy từ lâu
          Ánh mắt rạng rỡ nét sầu chưa khuây
                   Niềm vui đã cấy từ đây
          Lối xưa nhẵn bước sớm ngày vào ra
                   Quý em, thương mẹ, thương cha
    Chăm lo tận tụy như là con dâu
                   Chuyện trò để mẹ bớt sầu
          Dốc tâm lấp kín nhịp cầu can qua
                   Tình đời vắt nước tưới hoa
          Mong sao cho mẹ, cùng cha vui lòng
             Dẫu rằng: Duyên đã đoạn dòng
          Nước nguồn càng phải giữ trong mới là
                   Dẫu rằng: Còn một mình ta
          Nhớ thương sao chẳng muốn xa lời thề,
                   Thắp nhang khấn gọi người về,
    “Thủy chung” muốn mãi một bề mà thôi
     Trời xuân dào dạt mây trôi
          Cành tơ đón nắng đâm chồi nở hoa
                   Sóng hồ phơi nắng chiều tà
          Liễu xòa đùa nước la đà cành xanh
       “Phổ ơi! Hồn khí của anh!”         
“Cảnh này anh đã vịnh thành bài thơ,

 
Thắp nhang khấn gọi người về
Thủy chung muốn mãi một bề mà thôi.

*
*     *
         
                   “Em yêu, em nhớ, em chờ,
          “Cảnh còn, người đã tan mờ tuyết sương
                   “Lòng em nặng mãi yêu thương
        “Trong mơ em vẫn thường thường gọi anh
                   “Hỡi ơi! Chẳng thấy lời anh
          “Linh thiêng anh hãy biến thành gió mây
                   “Để bay về tới nơi đây
          “Cho em một phút giãi bày tình riêng
             “Ước gì có được phép tiên
          “Làm anh sống lại ở liền bên em
                   “Để cho phận đũa có đôi
          “Cho đàn anh rộn, cho môi em cười
                   “Anh ơi! Em chỉ một người
      “Trọn tình vun đắp, duyên mười thành không!
                   “Lốc lịch mỗi xé, mỗi trông
                                                         “Mỏng đi, dày lại thuyền không tới bờ                                          
“Uất lòng phận liễu xác xơ

          “Hỏi trời! Sao nỡ làm ngơ hỡi trời?!
            “Ai gây vật đổi sao dời?!
     “Thù quân cướp nước muôn đời không quên”.
                   Tháng ngày tôi luyện chí bền
          Đến nay Hồng đã trở nên vững vàng
                   Được lòng tin của xóm làng
    Hồng làm chủ nhiệm lại càng vững thêm
                   Cần mẫn chẳng quản ngày đêm
          Đưa hợp tác xã tiến lên như diều
                   Bà con thôn xóm thêm yêu
          Bên Hồng khuyên nhủ mọi điều nghe theo
            Khen cô gái trẻ vững chèo
          Khéo khôn, ăn nói mọi điều êm ru
                   Buổi chiều hăm bảy đầu thu (7)
          Phi lao trước gió hát ru rì rào
                   Nghĩa trang tấp nập người vào
    Rợp hoa đủ sắc, mộ nào cũng hoa
                   Hồng dành riêng một chút quà
          Ấy là: sáp, nến, hương, hoa viếng người
                   Bó hoa vàng, trắng sắc tươi
          Đặt lên mộ Phổ, lặng người hồi lâu
             Non xuân nhuộm thắm nét sầu
          Dòng thu lặng lẽ tách từng giọt châu
                   Khói nhang tỏa cuốn từng câu
          Long lanh lời ngọc, sáng màu thủy chung
     “Xin anh rộng lượng khoan dung
    “Âm dương hoa lá, chẳng chung một cành
                   “Khước từ lời nguyện cùng anh
          “Đôi ta sống, chết, rách, lành một nơi
                   “Nay em phải ở trên đời
          “Để biến nguyện cũ thành lời thề nay
            “Lời thề dân tộc chất dày
          “Vì nhà, vì nước chung tay diệt thù,
                   “Cho người yên nghỉ ngàn thu
          “Cho hoa quê nở bốn mùa đẹp tươi
                   “Cho đời rộn tiếng hát cười
    “Cho duyên đôi lứa người người bền lâu
                   “Anh ơi! Dù ở nơi đâu
          “Lòng em vẫn giữ một màu trắng trong”
                   Nối nhau nước mắt tuôn dòng
          Nghiêng mình dốc nấc, xối lòng xót xa
             Chôn chân chẳng muốn bước ra
          Vật vờ, xáo trộn bóng tà lao đao
                   Hợp tác tiến tới cấp cao
          Xóm làng mong mỏi ước ao nhân tài
                   Thế rồi được một chàng trai
    Là kỹ sư Tú lắm tài trời ban
                   Tin vui làng xã lan tràn
          Bạn bè tìm đến hỏi han vui mừng
                   Buồn sao anh lại dửng dưng
          Lời ăn, tiếng nói xem chừng kiêu căng
             Tỏ ra một đấng tài năng
          Mà xem phong cách gió trăng đuề huề
                   Năm năm đại học xa quê
          Lãnh bằng tốt nghiệp trở về địa phương
                   Kỹ thuật nông nghiệp tinh tường
    Xưa là bạn Phổ cùng trường cấp ba
                   Với Hồng cũng chẳng lạ xa
          Khác thôn cùng xã cũng là gần thôi
                   Nay liên hoàn lại cả rồi
          Chung một hợp tác từ hồi tháng ba
            Lựa hôm Tú nghỉ ở nhà
          Chủ nhiệm Hồng đến đưa ra vấn đề
                   Rằng: “May mắn được Tú về
          “Kỹ thuật ắt sẽ mọi bề tiến nhanh
                   “Tập thể cũng đã tán thành
    “Cử Tú phụ trách toàn ngành thủy nông
                   “Đội trưởng kỹ thuật cây trồng
          “Cũng giao cho Tú vì không có người"
                   Đón lời Tú tủm tỉm cười:
          “Được thôi! Tôi sẽ nhận lời từ nay
             Hồng lại tiếp tục giãi bày
          Rằng: “Mong Tú hãy ra tay trổ tài
                   “Quê mình vốn chẳng được ai
          “Có ăn, có học đa tài nghề nông
                   “Kỹ thuật biên chế rất đông
    “Tốn người, tốn sức vẫn không ra gì
                   “Mong Tú hết sức để vì
          “Mở lớp bồi dưỡng có gì giúp nhau
                   “Ắt là không trước thì sau
          “Toàn đội kỹ thuật sẽ mau trưởng thành
             “Đến khi mọi việc tiến nhanh
          “Nổi danh tay vẽ bức tranh mới này”
                   Tú rằng: “Hồng khéo nói thay
          “Nhưng hãy nán lại ít ngày tham quan
                   “Để tình hình rõ hoàn toàn
    “Thì đến khi ấy lo toan dễ dàng
                   “Chân ướt, chân ráo về làng
          “Mọi việc tôi vẫn còn đang sưu tầm”
                   Hồng rằng: “Thế cũng được thôi
          “Vướng gì thì cứ bảo tôi đỡ đần”
             Hồng về, Tú những bần thần
          Suy đi, tính lại chuyện gần, chuyện xa
                   “Vùng này mấy đứa bằng ta?
          “Có đuổi kịp được phải là vài năm!
                   “Ngẫm mình đâu phải con tằm
    “Mà rút hết ruột rồi nằm bó thân
                   “Có chăng cũng phải dần dần
          “Một hai, rồi lại mỗi lần một hai...”
                   Vốn trời cho được chút tài
          Dắt lưng tằn tiện đường dài đủ chơi
             Tú đi dạo khắp mọi nơi
             Ngắm vườn, ngắm ruộng, ngắm người, ngắm cây
                    Túc tắc làm việc qua ngày
          Gặp sự nghịch cảnh sổ tay ghi vào
                   Ngẫm họ chẳng biết tí nào
    Làm ăn như thế bảo sao mất mùa?
                   Nếu như gặp dịp ganh đua
          Thì ta cũng đã có “bùa” rồi đây
                   Anh nào thắng nổi tay này?
          Giải nhì cũng chỉ họa may một người
            Quả là đất một, trời mười
          Ai chê, ai phục, ai cười hỡi ai?
                   Ngoài ta còn một nhân tài
          Xem ra thiên hạ chưa ai sánh cùng
                   Người sao duyên dáng nhan dung!
    Làm ta vương vấn nhớ nhung sớm chiều
                   Đẹp người, đẹp nết đáng yêu
          Xa gần nay đã có nhiều kẻ qua
                   Một khi ong bướm tranh hoa
          Nhất là cường độ, nhì là cự ly
             Với ta cường độ ai bì
          Vốn nhà sẵn có cự ly đã gần
                   Sớm chiều trước khách, sau thân
          Lửa lòng ắt sẽ dần dần bén rơm!
                   Mỗi ngày Tú xích lại gần
    Xem ra quan hệ có thân hơn nhiều
                   Ngẫm rằng: Nàng cũng đã yêu
          Không thì tồn tại một chiều làm sao?
                   Đêm nay ta mạnh dạn vào
          Mở trận dứt điểm thế nào cũng xong
             Xem chừng họ vẫn chờ mong
          Mà mình chẳng chịu tỏ lòng họ khinh!
                   Tù mù cảnh vật lặng thinh
          Hồng đang dưới bếp một mình nấu cơm
                   Bỗng nghe đánh “phịch” đống rơm
    Thót mình như nước lạnh bơm gáy Hồng
                   Tú cười khanh khách nhìn Hồng
          “Đứng cửa từ nãy vẫn không thấy à?”
                   Hoàn hồn Hồng mới nói ra
          “Làm cái trò ấy ai mà chẳng kinh?”
            Tú lại nói giọng gợi tình:
          “Đổ nước vào ấm để mình đun cho”
                   Thỏ thẻ tiếng bé, tiếng to
          Giọng cười thiếu muối như ho trong kèn
                   Rơm cháy thi sáng với đèn
    Lưỡi lửa léo lắt liếm đen trôn nồi
                   Đến khi cơm đã chín rồi
          Hồng mời thượng khách lên chơi trên nhà
                   Ngả lưng, dựa ghế lân la
          Phì phèo điếu thuốc, lời ra, khói vào.
             Tay khua, mồm nói, mắt chao:
          “Đôi ta duyên nợ tính sao hỡi Hồng?
                   “Vun cây cũng đã dầy công
     “Xuân sang nay muốn ngồi trông hoa cười
                   “Vốn xưa là bạn cùng người (8)
      “Đau lòng khi thấy duyên mười thành không!
                   “Xót thay mây phải lìa rồng
          “Núi cao này muốn thay rồng bên mây
     “Nước vơi, chờ đến khi đầy
          “Tròn năm mới dám giãi bày tình duyên (9)
             “Biết rằng Hồng cũng chẳng kiêng
          “Song đạo phong kiến vẫn thiêng trong đời
                   “Nay xin bên ấy mấy lời
          “Cho chim đủ thế đùa chơi bên cành
                   Lời ra đã rõ ngọn ngành
    Khác nào chè đỗ cho hành lấy thơm
                   Cao cao, thấp thấp, lờm xờm
          Trời mưa ai lại phơi rơm ra đường?
                   Động lòng Hồng lại nhớ thương
          Hồn người mù mịt tuyết sương xa vời!
           Gượng lòng tạm thốt mấy lời
          Mong cho ai đó hiểu đời cho sâu
                   Rằng: “Từ xưa vẫn có câu:
          “Miếng trầu là đã nên dâu nhà người
                   “Dẫu cho có đúng mười mươi
   “Dẫu sai, sai tất cả mười phần đi
                   “Thì điều đó chẳng hề chi
          “Làm con trọn đạo đây vì tình thương
                   “Cành duyên gẫy vẫn còn vương
          “Ba năm tơ vướng có nhường may ra (10)!

          Tú nghe ngẩn mặt xót xa
Rơm cháy thi sáng với đèn
Lưỡi lửa léo lắt liếm đen trôn nồi.

*
*     *
          Ruổi giong theo đuổi nay đà thất duyên
                   Khéo che nét mặt nuốt phiền
          Còn gì mà nói, đành liền bước ra!
                   Gượng cười tạm biệt qua loa
    Ngẫm với chẳng được vì hoa cao cành
                   Phải đâu tạm gác tuổi xanh
          Chê ta nhưng họ chả đành nói thôi
                   À! Ta đã nghĩ ra rồi
          Tiếc rằng vội vã tấn công chẳng lường
             Tiền tuyến mạnh có hậu phương
          Duyên tình mạnh có phép thường mẹ cha
                   Trò đời đâu có lạ xa
          Bố mẹ ràng buộc mấy mà chả nghe!
                   Tới nhà quà cáp, áo the
    Làm cho nước động, cho bè động theo
                   Nước trôi, dựa nước nhẹ chèo
          Dần dà gió lộng gác chèo buồm căng
                   Lấy lòng mình vốn có “bằng”
          Khổng Minh tài thế trí năng khác thường
             Ấy nên củng cố hậu phương
          Làm cho, cho thấu, cho tường, cho thân
                   Đến khi đã thực vững chân
          Rồi ta lại tiếp một lần tấn công
                   Nếu thành vẫn vững như đồng
   Hỏi thành nền sụt, thành sông hỡi thành?
                   Mưu cao tính kế đã rành
          Ngẫm sâu lại thấy ngọn ngành khó coi
                   Trai tài mình đã hẳn hoi
          E làm như thế hẹp hòi quá thôi
             Đành rằng ép có thể trôi
          Lại e vung hở thì nồi sống cơm
                   Làm trai như một cái nơm
          Sông dài đồng rộng cá thơm thiếu gì?
                   Nhìn đời giả lặng quên đi
    Xem người khác đến chối gì nữa không?
                   Núi cao, núi thấp họ trông
          Phụ ta, ta sẽ phản công bất ngờ
                   Bao ngày đắp đập, be bờ
          Dễ gì thiên hạ đem lờ đến đơm?
             Bỏ qua những chuyện bờm xờm
          Phớt mặc cậu Tú úp nơm ngoài đồng
                   Và tạm gác chuyện về Hồng
          Xin mời quý vị ngắm trông nhà Trình
                   Con đi mẹ ở một mình
    Quạnh hưu một bóng, một hình năm canh
                   Tuổi già vui với cây xanh
          Mẹ đã nhập hội lão thành quê ta
                   Vun xới cây ở đường xa
          Đường ghềnh thũng thẵng về nhà nghỉ trưa
             Tới nhà ngồi dưới gốc dừa
          Xốn xang mừng thấy cô đưa thư vào
                   Thư của con mẹ, cô trao
          Bóc thư lòng mẹ nao nao rộn ràng
                   Phần này của mẹ hai trang
    Còn đây gửi cả xóm làng bốn trang
                   Mắt mẹ nhìn chẳng rõ ràng
          Muốn xem, mẹ phải cầm sang nhờ Hồng
                   Những lo con có khỏe không?
          Chiến trường nó có lập công được gì?
             Lật đật từng bước mẹ đi
          Lâng lâng lại nghĩ đến khi con về
                   Góa chồng đứng vậy một bề
          Đơn thân buồn tủi, tràn trề bấy nay
                   Nuôi con mong mỏi từng ngày
          Cầu con khôn lớn đỡ tay cho mình
                   Nhưng vì nước, tạm xa tình
          Con đi đánh giặc ở mình vẫn vui
                   Đành rằng đôi lúc tùi ngùi

               Ngày lễ, ngày Tết, ngọt bùi vắng con
Tuổi già vui với cây xanh
Mẹ đã nhập hội lão thành quê ta
Vun xới cây ở đường xa
Đường ghềnh thũng thẵng về nhà nghỉ trưa

*
*     *
           
Thắng lợi nay sắp vẹn tròn

          Mẹ con sum họp chẳng còn xa chi
                   Nó về ắt sẽ có khi
          Bồng bồng bế cháu còn gì vui hơn!
                   Bóng mây khuất nắng chập chờn
    Sáng tươi mái ngói như sơn màu hồng
                   Dừng bước mẹ đứng lại trông
          Chưa kịp đánh tiếng thì Hồng đã ra
                   Đon đả mời mẹ vào nhà
          Dịu dàng nâng chén nước trà tận tay
             Mẹ ngồi thư thả giãi bày
          “Kể từ tháng chạp cái ngày cháu đi (11)
                   “Thư từ nó gửi thường kỳ,
          “Tôi nhận một tháng có khi hai tờ
                   “Thế mà lại phải mong chờ,
   “Ba tháng bằn bặt chẳng thơ từ gì
                   “Biết nên cũng chẳng lo chi
          “Chắc là cháu được chuyển đi “B dài”(12)
“Thế rồi thật quả không sai

          “Hôm nay thư cháu gửi hai lá về.
             “Cảnh già mắt mũi chán ghê!
          “Chữ nghĩa loa lóa chả hề thấy chi
                   “Thư đây cô đọc giúp đi
          “Xem là nó có việc gì hay không”
                   Lấy thư trao tận tay Hồng
    Mẹ ngồi hồi hộp giục Hồng đọc mau
                   Lời Hồng dõng dạc từng câu
          Rộn lòng mẹ chỉ gật đầu lặng thinh
                   Ý thư nặng nghĩa, nặng tình
          Nghe mà thấy cả dáng hình người xa
             Tỏ lòng người nhớ quê nhà
          Mộc mạc, giản dị thế mà lại hay
                   Nhớ quê, thương mẹ hàng ngày
          Nghe mà nhớ lại những ngày hát ru.
                   “Thường khi đánh bại quân thù
    “Khểnh lưng trên chiếc võng dù ngắm trăng
                   “Gió reo vui nhủ thầm rằng
          “Thù chung đã trả ở đằng sau ta
                   “Vui cảnh lại nhớ quê nhà
          “Nhìn núi lại nhớ mẹ già xa xôi
             “Thõng chân hãm võng nhổm ngồi

          “Nghe tiếng bạn hát, nhớ hồi còn thơ 
Ý thư nặng nghĩa, nặng tình
Nghe mà thấy cả dáng hình người xưa
*
*     *

    
          “Xuống võng dạo bước thẩn thơ
          Tiếng còi rộn rã báo giờ hành quân
                   Náo nức, nhộn nhịp mọi phần
    “Tiếng cười, tiếng hát theo chân bạn hiền
                   “Gặp giặc chí đã luyện bền
          “Lao trong lửa đạn rộn lên lời thề
                   “Giặc tan lại tưởng ngày về
          “Nghe tiếng thác chảy nhớ nghề năm xưa (13)
            “Nhớ khi nắng, nhớ khi mưa
          “Nhưng giặc chưa hết, nên chưa thể về”
                   Nghe thư thấy mẹ vui ghê
          Mơ màng như thể ngồi kề bên con
                   “Thế là cũng đã vẹn tròn
    “Nó biết vì nước, vì non quên mình
                   “Chả mấy rồi sẽ hòa bình
          “Tôi ắt được đón thằng Trình nhà tôi!!!
                   “Ờ! Nó nhớ mẹ quá thôi
          “Nhìn núi lại tưởng mẹ ngồi ở bên
            “Mừng nó chí đã luyện bền
          “Chắc rồi nó sẽ lập nên công nhiều
                   “Cứ lo cho nó đủ điều
          “Thế mà nó lại khôn nhiều hơn tôi
“Chào cô, chào cụ hãy ngồi

   “Thư xin cô lại để tôi ra về”
                   Hồng tiễn chân mẹ ra về
          Quan tâm săn sóc mọi bề bấy nay
                 Tan sương vừa mới rạng ngày
          Văn phòng Hồng đến hôm nay họp bàn
             Cuộc họp quản trị đã tan
          Hồng còn ngồi đó bên bàn trầm ngâm
                   Xoay quanh việc cải tạo đầm
          Xem chừng “ngựa ấy” khó cầm nổi cương
                   Phải bàn với Tú cho tường
    Rồi vội rảo bước đoạn đường khá xa
                   Bóng rơm ấp ủ đàn gà
          Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre
                   Tiếng ve ra rả gọi hè
          Dọc đường phượng vĩ đỏ hoe nắng tà
            May sao Tú vẫn ở nhà
          Hồng ngồi cùng Tú đưa ra vấn đề

                   “Văn bản trên mới gửi về,
Bóng rơm ấp ủ đàn gà
Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre.

*
*     *
           “Phương án phục hóa  đã phê rõ ràng
                   “Nay phải vớt hết bèo hoang
    “Đồng thời dọn cỏ làm quang đầm lầy
                   “Khơi sâu thả cá vào đây
          “Bèo hoang cỏ dại thì rày làm phân”
                   Tú nghe qua những tần ngần
          Việc này thì cũng lắm phần khó đây
             Hờ hững dựa ghế trình bày:
          “Xoay dài hồ rộng đầm lầy cần chi
                   “Vội cải tạo nó làm gì?
          “Dân nghèo, quân yếu thực thi chẳng bền”
                   Hồng rằng: “Đây chỉ thị trên
    “Ý kiến tập thể ta nên chấp hành”
                   Tú nghe đã rõ ngọn ngành
          Vừa đi, vừa nói như anh hề ngày:
                   Ngẫm: “Đời quả thật buồn thay
          “Cóc làm tội nhái, nhái đày ễnh ương
            “Trách ai đường lối chẳng tường
          Theo lề lối ấy học trường nào ra?
                   “Trách ai chẳng biết công ta!
          “Sản lượng tăng vọt hỏi là vì đâu?
                   “Ven sông mườn mượt nương dâu
    “Nước leo ruộng cạn, hoa màu ngát xanh
                   “Chăn nuôi cũng phát triển nhanh
          “Tay này chẳng đã tạo thành hay sao?”
                   Chán tai nghe giọng tự cao
          Sôi lòng Hồng thấy nôn nao, bất bình
             Buồn thay chẳng tự thấy mình
          Phải cho họ thấy sự tình mười mươi:
                   “Quê hương ngày một đẹp tươi
          “Là nhờ công sức mọi người cùng lo
                   “Gà gáy đâu đã phải to
   “Mà thấy trời sáng tưởng do tiếng mình
                   “Nhìn người chớ có xem khinh
          “Trưởng thành nhờ ở nghĩa tình của ai? (14)
                   “Ăn học kiến thức rộng dài
          “Mà sao chẳng nhớ một bài đơn sơ,
             “Tỏ tài, đừng để đức mờ,
          “Nghĩ lại vẫn đủ thời giờ hỡi ai!”
                   Tú ngồi đỏ mặt, nóng tai
          Lời người san sát như mài ruột ta
                   Sĩ phu ngán giọng đàn bà
    Bần thần, ậm ự xem ra đuối lời
                   Nuốt nhịn thật quả tức đời
          Bâng quơ Tú quẳng mấy lời chông gai:
                   “Dù tôi kém đức, bất tài
“Thuyền tôi, tôi lái, khiến ai vịn chèo
            “Hãy đừng giở giọng eo sèo
          “Ốc lê thân ốc, còn đèo thêm rêu!
                   “Buông lời như chửi, như trêu
          “Hỏi ai, ai đã tốt đều hay chưa?
                   “Âu là tài đức dư thừa
   “Cớ sao cầm gậy che mưa cho người?”
                   Hồng nghe Tú nói bật cười
          Ngẫm rằng trong giận đã hơi quá lời
                   Ý tứ chẳng thấu tới nơi
          Mà làm người lại tức đời vì ta
             Những lời Tú đã nói ra
          Rốt cuộc cũng chỉ do là bực thôi
                   Tính người ta đã hiểu rồi
          Lựa lời thì cũng sẽ trôi thôi mà
                   Ân cần, dịu giọng giải hòa:
    “Gây điều bực bội ấy là tại tôi
                   “Nay Tú nén giận hãy ngồi
          “Bình tâm một chút để tôi giãi bày
                   “Thật là hiếm có hôm nay
          “Chúng mình lại được giãi bày cùng nhau
             “Ấy là khi một ngựa đau
          “Xót lòng bỏ cỏ cả tàu không ăn
                   “Đã qua những lúc khó khăn
          “Với khi vất vả, nhọc nhằn có nhau
                   “Đã là trọng nghĩa trước sau
    “Thì khi thấy bạn mình đau phải sầu
                   “Tú vẫn chưa rõ lẽ đâu
          “Bấy lâu Tú đã bạc mầu khác xưa
                   “Tuy cũng dãi nắng dầm mưa
          “Song thực tình vẫn làm chưa ra trò
             “Có khi bày đặt lý do
          “Dấu diếm kỹ thuật mặc cho người lần
                   “Hiểu nhau đến quá chín phần
          “Nói ra chẳng đặng, ngại ngần làm thinh
                   “E rằng Tú sẽ bất bình
    “Mà đến nỗi ấy lòng mình chẳng cam
                   “Nhưng nay phải nói, phải làm
          “Lo qua ngày tháng chàm chàm lấn cây
                   “Quả là hiếm có lúc này
           “Hồng mong Tú hãy đổi thay Hồng mừng!”
             Lời khách nước lách vừa dừng
          Nét chủ thấm đậm, xem chừng đã xiêu
                   Ngẫm ra đúng hết mọi điều
          Đáy tim mình, họ thấu nhiều lạ thay
                   Khéo khôn, từng trải dạn dày
    Thiên hạ thật hiếm có tay như Hồng
                   Đã tinh tường việc nhà nông
          Trình độ lý luận lại không kém đời
                   Lòng Tú sôi động bời bời
          Dựa tường, cạy gạch vẽ chơi nhùng nhằng
             Hồng lại dìu dịu tiếp rằng:
          “Việc này với Tú khả năng dồi dào
                   “Quê mình tiềm lực khá cao
           “Quyết tâm thực hiện, thế nào cũng xong!
                   “Hồng luôn phấp phỏng chờ mong
    “Trí tài ấy sẽ đẹp lòng làng quê
                   “Nay đưa lực lượng mạnh về
          “Còn phần ruộng cấy thì thuê máy cày”
                   Thoắt nghe Tú vội xua tay
          “Không thể thực hiện ý này được đâu
             “Trâu đen cắt cỏ cho trâu (15)
          “Trâu đỏ thì lấy gà đâu cho vừa
                   “Cơm thường thì họ chẳng ưa
          “Mà đến nỗi ấy cày bừa ra chi?
                   “Làm lại quá tội làm đi
    “Mà giở chè chén rồi thì tính sao
                   “Tiêu chuẩn có được là bao?
          “Quá tay rồi biết gọt bào thân ai?
     “Có răng thì để răng nhai

          “Không răng cứ lấy lợi mài cũng xong
             “Nay nên lo việc cày bừa
          “Phơi cho đất ải đón mưa kịp thời
                   “Sau khi mọi việc xong rồi
          “Cấy hái đã vãn thì khơi đầm lầy
                   “Phương án tôi đã tính đây
    “Mét vuông đơn vị đầm lầy vạn ba
                   “Khối lượng đào đã tính ra
          “Mét khối đất đắp ấy là chín trăm
                   “Địa tầng cũng đã dò thăm
          “Dịp nước xuống thấp mỗi năm hai lần
            “Binh lực nếu có trăm quân
          “Thì chỉ làm đúng năm tuần là xong
                   “Xét theo điều kiện xã nhà
          “Và nhìn thực tế khi ra thăm dồng
                   “Phải tăng diện tích đất trồng
    “Đây bản thiết kế, Hồng trông xem này
                   “Hoàn thành đã mấy tháng nay
          “Đầm lầy ta sẽ đổi thay ba phần
                   “Khu này nạo vét làm phân
          “Khu này thì chẳng phải cần đào thêm
             “Mà đổ đất rắn làm nền
          “Tạo thành hòn đảo nổi trên mặt hồ
                   “Mặt hồ chỉ chiếm hai phần
          “Một phần ta sẽ dần dần cơi cao
                   “Cỏ, bèo, bùn đất đổ vào
    “Tạo nên khu ruộng dồi dào hữu cơ
                   “Nay ta hãy tạm đợi chờ
          “Cấy mùa xong sẽ phất cờ làm ngay
                   “Chả cần thuê khoán máy cày
          “Thêm điều phiền toái chẳng hay chút nào
             “Nhân lực ta rất dồi dào
          “Như Hồng đã nói thế nào cũng xong
                   “Từ lâu Tú vẫn ước mong
          “Đầm lầy sao cũng đẹp trong như hồ”
                   Xem Tú chỉ dẫn sơ đồ
    Biến đầm lầy ấy thành hồ nước trong
                   Đúng như Hồng đã chờ mong
          Nghe mà mát tận đáy lòng vui thay
                   Hồng rằng: “Phương án quả hay
          “Xóm làng mình sẽ đổi thay tuyệt vời”!
            Tiễn khách về khuất lối đi
          Tú còn ngồi lặng tính suy một mình
                   Anh tưởng tới đảo “Hòa Bình”
          Tưởng tới quán gió hữu tình Thủ đô
                   Đầm lầy cải tạo thành hồ
    Rồi cảnh chẳng kém Thủ đô chút nào
                   Khi hàng cây đã lên cao
          Hòn non, ghế đá đưa vào nơi đây
                   Nước hồ mãi mãi giữ đầy
          Đêm đêm cá lội, từng bầy đớp trăng
            Ta phải mang hết khả năng
          Quyết tâm xây dựng bằng xong cảnh này
                   Và làm mọi việc đổi thay
          Cho quê hương được mỗi ngày thêm tươi
                   Cho đời vang rộn tiếng cười
          Cho duyên đôi lứa sáng ngời ánh trăng
             Trai tài tiếng đã gọi rằng
          Lẽ nào lại để khả năng phai nhòa!
                   Hoa tươi ai chẳng yêu hoa
          Bướm ong vất vưởng bỏ qua sao đành
                   Hồng về rẽ sợi trúc mành
    Bóng tà lặn khuất, non xanh rực hồng
                   Gương nga chênh chếch đàng Đông
          Lách qua song cửa, ngắm trông dáng người
                   Quỳnh khuya hé nhụy mỉm cười
          Sương gieo lấp lánh sắc tươi thua dài
             Sớm hôm thấp thoáng bóng ai
          Gạch thềm nhẵn bước, cổng gài tóc xanh
                   Yêu hoa tha thiết bên cành
          Ngỏ lời vẫn thấy ngọn ngành khó khăn
                   Hỏi ra mới biết thầy Căn
    Cử nhân sư phạm dạy văn lớp mười
                   Dáng người cao ráo đẹp tươi
          Long lanh mắt ngọc, miệng cười như hoa
                   Học sinh nam nữ cấp ba
          Mến yêu, kính trọng như cha của mình
             Mảy may chưa một mối tình
          Gần Hồng sôi động, sóng tình thương yêu
                   Vào ra sớm sớm, chiều chiều
          Quen thân càng thấm đượm nhiều vấn vương
              Mây trăng đùa dưới giếng đình
    Gió hiu hiu thổi rập rình ngọn tre
              Góc vườn đom đóm lập lòe
     Đu trên mặt lá, lén nghe chuyện người
              Tiếng nói xen lẫn tiếng cười
     Thì thào to nhỏ, tiếng mười, tiếng ba
.            Rằng: “Trong những chuỗi ngày qua
          “Có Hồng bên cạnh thật là vui thay
                   “Lòng tơ vương vấn tháng ngày
          “Bấy lâu gương ấy bóng này muốn soi
                   “Ngẫm lòng vàng chẳng hẹp hòi
    “Bởi nên đũa mốc, dám chòi mâm son
                   “Tố Uyên luống đã mỏi mòn(16)
          “Ước mong mây ấp núi non sớm chiều
                   “Mong cùng chung một chữ yêu
            “Nên chăng xin được mấy điều trọng khinh?”
             Thấm lời, Hồng những lặng thinh
          Ơn người “Kiều Trọng” đưa tình tới tay
                   Thấu tâm nắng lửa mưa dày
          Chuyển lòng lời lẽ mây bay chiều hè
                   Người sao ăn nói dễ nghe!
    Khiến cho thông, liễu, trúc, tre rủ cành!
                   Cảnh sao đẹp tựa như tranh!
          Thế nhưng!Nay vẫn, chẳng đành lòng yêu!
                   Trầm tư chọn ý lựa điều
          Dẫu đành thuốc đắng, dã tiêu tật tình!
             Rằng: “Duyên xưa đã tan bình”
     “Mà lòng vẫn đậm mối tình chưa phai
“Tu thân vẹn một không hai
          “Nhang đèn ngày rộng, tháng dài chờ mong
                   “Đoạn dòng, nguyện lắng nước trong
    “Thương tình Phạm Tải giữ lòng Ngọc Hoa (17)
                   “Ơn người tình nghĩa đượm đà
          “Xin lòng quân tử lượng tha mọi phần
                   “Chẳng duyên nên nghĩa, nên thân
          “Lòng mây xin được luôn gần núi non
             “Những mong tình bạn vẹn tròn
          “Mong người mãi mãi lòng son không mờ”!
                   Hỡi ơi! Dòng nước thờ ơ!
          Hỡi ơi! Mây trắng hững hờ nhẹ đưa!
                   Hỡi ơi!Tô Thị thời xưa
    Người đã hóa đá nắng mưa giữa trời!
                   Đã là thì cũng nhận lời
          Sánh vai tình bạn xây đời bền lâu
                   Bạn bè tình nghĩa trước sau
          Ngày ngày tận tụy giúp nhau học hành
             Sớm hôm Căn đến giúp Hồng
          Đêm khuya, mưa gió cũng không xa rời
                   Cùng nhau nguyện giữ trọn lời
          Bắt tay gắn bó xây đời bất ly
                   Bạn hữu tâm phúc tương tri
    Giúp nhau chẳng sá điều gì khó khăn
                   Thành mây đen trắng lằn vằn
          Núi đứng đăm đắm, khăn rằn vắt vai
                   Chấp chới én lượn xuân lai
          Trình về đang đứng ngắm ai dưới đồng
          Đường nhà mỗi lúc một đông
          Ai ai cũng muốn được trông rõ ràng
                   Tới thăm gần hết cả làng
          Nhìn anh, nhìn kỹ lại càng thương thay
                   Bên trái dùng gỗ làm tay
1005 Một mắt trũng xuống trông ngày như đêm
                   Nghe còn giọng nói êm êm
          Dáng người có rắn rỏi thêm ít nhiều
                   Càng thương, càng mến, càng yêu
          Xóm làng, bè bạn sớm chiều chăm lo
Những mong tình bạn vẹn tròn
“Mong người mãi mãi lòng son không mờ.

*
*     *
           Mẹ già khấp khởi vui mừng
          Tràn lòng ra mắt rưng rưng bên lề,
                   Mừng nay con mẹ đã về,
          Lại mừng Hồng đã có bề thương yêu
                   Cô thường thấp thoáng sớm chiều
 Xem ý cô ấy chắc yêu thằng Trình
                   Ờ kìa! Hai đứa tâm tình
          Mơ màng mẹ đứng ngắm hình hai con
                   Mong sao duyên lứa vẹn tròn
          Khi nào kết quả mẹ còn vui thêm
           Vầng trăng vằng vặc giữa đêm
          Cây in hoa xuống mặt thềm lung linh
                   Sương rung dải lụa ẩm tình
          Lập lờ một bóng hai hình đẹp ghê!
                   Lắng nghe! Nghe rõ mọi bề,
 Bao chuyện đổi mới của quê hương mình
                   Xốn xang, rạo rực lòng Trình
          Lâng lâng, nghèn nghẹn, treo mình chơi vơi
                   Ngẫm rằng mạnh dạn ngỏ lời
          Ta cứ nói rõ đến nơi chuyện này
           Rằng: “Từ khi gặp đến nay
          “Phận hèn đã được gặp may trong đời
                   “Tiện đây xin hỏi mấy lời
          “Nụ vườn ấy đã có nơi nào chờ?
                   Hồng rằng: “Mưa gió làm ngơ
 “Nén lòng cong cuống đến giờ còn tơ
                   “Xuân về đâu phải tình cờ
          “Ấp đông giữ nhụy đợi chờ xuân sang”.
                   Song thưa hứng lọt lời vàng
          Nể tài, trọng nghĩa lại càng thêm yêu
          Băn khoăn rồi mới đánh liều
          Được thua cho nhẹ mọi điều nén tâm
                   Rằng: “Mình thân phận kém người
          “Biết rằng ghép cảnh hoa mười lọ ba
                   “Chả còn như lúc ở nhà
 “Vốn tài nhỏ mọn lìa xa cuộc đời
                   “Ơn Hồng chăm sóc đến nơi
          “Hiểu nhau nay dám ngỏ lời tình riêng
                   “Thương nhau xin được chắp duyên
           “Cành tàn liệu lọt mắt huyền được chăng?”
          Đỡ lời Hồng vội đáp rằng:
          “Thương nhau ví chuyện gió trăng làm gì!
                   “Anh vì nhiệm vụ ra đi
          “Tuổi xuân đã hiến để vì quê hương
                   “Lòng em trĩu nặng tình thương
 “Đời anh ai nỡ xem thường coi khinh
                   “Đã nhiều ong bướm đưa tình
          “Nén lòng em những lặng thinh đợi chờ,
                   “Lòng riêng em có ai ngờ?
          “Rào vườn, rấp lối vì chờ hôm nay!
          Nhìn nhau tay nắm chặt tay
          “Càng yêu vì nết, càng say vì tình”
                   Lâng lâng giao mắt lặng thinh
          Nhịp tim, hơi thở của mình hay ai?
                   Men tình rút ngắn đêm dài
 Chuyện trò tiếp nối sáng mai bao giờ!
                   Kết quả bầu cử vừa qua
          Lớp trẻ nổi bật như hoa quê nhà
                   Trình làm chủ tịch xã ta
          Kiêm việc văn hóa  ấy là việc xưa
           Tháng ngày thấm thoắt thoi đưa
          Đông qua xuân tới đã thừa một năm
                   Tình chung sáng đẹp trăng rằm
          Nay đà lo việc trăm năm duyên tình
                   Rộn rã man mát lòng Trình
 Báo tin thân hữu của mình gần xa
                   Cùng nhau sang sửa cửa nhà
          Kê bàn, làm rạp, kết hoa, têm trầu
                   Buồng riêng chuẩn bị đón dâu
          Khắp tường phơn phớt một màu ve xanh
           Khuất song cửa sổ mành mành
          Trúc mai sơn thủy, bức tranh hữu tình
                   Chiếu mới, giường mới xinh xinh
          Bàn con đặt một lục bình cắm hoa
                   Người vào chen lối người ra
 Tấp nập ngoài ngõ trong nhà xôn xao
                   Hôn đài rực rỡ cành đào
          “H, T” hai chữ lồng vào trái tim
                   Bông trắng đắp nổi đôi chim
          Hoa lòng rạng rỡ, càng nhìn, càng say
           Thơ tình ý đẹp, lời hay
          Thắm duyên, trọng nghĩa tự tay ghép vần
                   Trong ngoài chu đáo mọi phần
          Việc trăm năm chỉ một lần vui tươi
                   “Ma chê, cưới trách” lời người
 Hỏi ai, ai trách, ai cười vào đâu?
                   Tại nhà riêng của cô dâu
          Vu quy nghi lễ đã hầu như xong
                   Hồng như gió thổi trong lòng
          Tíu ta, tíu tít, ngõ trong, ngõ ngoài
           Mời hết bạn gái, bạn trai
          Ngày mai dự cưới vào hai giờ chiều
                   Việc không tên, đến là nhiều
          Dồn dập, gấp rút trăm điều phải lo
                   Lo việc nhỏ, lo việc to

 Lo cho vui vẻ, lo cho mặn nồng
Men tình rút ngắn đêm dài
Chuyện trò tiếp nối sáng mai bao giờ!
*
*     *
                   Vườn đào rạo rực ánh hồng
          Én đùa mặt ruộng báo đông đã tàn
                   Lúa xanh tiếp sức non ngàn
          Nâng vòm trời rộng với làn mây trôi
           Chân trời khắp nẻo giãn rồi
          Nhường chỗ ngô đứng, khoai ngồi vút xa
                   Ai ơi! Đẹp quá quê ta
          Lòng người hòa cảnh thật là vui thay
                   Mặt ruộng người đã nghỉ tay
 Tiếng cười, tiếng nói, gió bay theo về
                   Dáng ai thấp thoáng trên đê
          Chững chạc quân phục, nặng nề ba lô
                   Dừng chân đứng nghỉ bên hồ,
 Đặt ba lô xuống, ngắm trời, ngắm cây
                   Phải chăng say cảnh nơi đây?
          Mà sao đứng ngắm cứ ngây cả người?
                   Bước đi tay vẫy miệng cười
          Dõi trông cử chỉ dáng người quen ghê
           Kìa anh bước xuống dốc đê
          “Trời ơi! Anh Phổ đã về hôm nay !!!”
                   Xô nhau lao tới như bay
          Ôm cổ, níu áo, kéo tay, vuốt đầu
                 “Trời ơi! Mày ở nơi đâu?
  “Mà đi báo tử cho sầu lòng tao?”
                   Tiếng cười rộn rã lao xao
          Ôm nhau mừng dội tuôn trào lệ rơi
                   Tin vui lan khắp moi nơi
          Được tin ai cũng bật lời mừng sao
           Phổ vừa mới bước chân vào,
          Thấy bảng liệt sĩ treo cao tên mình
                   Cũng là việc để thanh minh
          Lấy huân chương cũng tên mình thay ngay
                   Rồi mở chiếc túi cộm dày
 Lấy quà đưa đến tận tay cả nhà
                   Đưa bánh biếu mẹ, biếu cha
          Còn đây túi kẹo là quà các em
                   Mở hết hành lý ra xem
          Phong bì, thiệp cưới lại kèm gối hoa
           Lại cả thuốc lá, kẹo, trà
          Đồ cưới chuẩn bị xem ra khá nhiều
                   Lại đây quà tặng người yêu
             Khăn len, lược nhựa, nhiễu điều, gương trong
                   Phổ còn sắp đặt chưa xong
 Bà con kéo đến như dòng nước sông
                   Lẫn trong đám khách có Hồng
          Phổ đưa ánh mắt ngắm trông dịu dàng
                   “Anh cũng đã biết em sang!
      “Nhưng trước kể chuyện xóm làng cùng nghe
           “Rồi sẽ chuyện với em sau
          “Hồ xanh ta lại bên nhau thuyền đàn
                   Tiếng cười, tiếng nói râm ran
          Bà con tíu tít hỏi han sự tình
                   Phổ tươi cười đứng phân minh
 Tường thuật lại chuyện của mình đã qua
                   Rằng: “Ngay giữa biển bao la
          “Ra đa phát hiện từ xa có thù
                   “Chiều tà sương xuống mịt mù
          “Tàu ta rẽ sóng bám thù tấn công
         “Tàu địch mỗi lúc một đông
          “Đạn nổ cột nước chất chồng lên nhau
                   “Biển xanh đã bị biến màu
          “Đối phương dàn trận vây tàu của ta
                   “Chí cao nợ nước thù nhà
 “Lựa cơ tương kế bắn đà tả tơi
                   “Vòng vây đã bị rã rời
          “Lửa cháy ngun ngút biển khơi rực hồng
                   “Chúng vẫn còn cậy thế đông

          “Ý đồ bắt sống vẫn không loại trừ
“Trời ơi! Mày ở nơi đâu?
“Mà đi báo tử cho sầu lòng tao?”

*
*     *
 
           “Chí bền đạn vẫn còn dư
          “Lời thề quyết tử ghi từ lâu nay
                   “Đạn lớn, đạn nhỏ, đan dày
           “Đối phương tổn thất càng ngày càng đau
              “Cháy, chìm tính đã bốn tàu
 “Cách mười hải lý có tàu ta ra
                   “Quay đầu chúng dở kế ma
          “Tập trung bắn hủy tàu ta rồi chuồn!
                   “Sóng ôm tôi nỗi đau buồn!
      “Rồi địch phát hiện kéo luôn lên tàu
           “Bắt về cũng khá lâu lâu
          “Rồi tụi lính ngụy mặt trâu bước vào
                   “Chợt nhìn đon đả hỏi chào
          “Sau chúng tra hỏi biết bao nhiêu điều
                   “Hết sáng rồi lại đến chiều
 “Mà tôi chỉ giữ một điều không hay
                   “Chúng lại dở giọng dỗ dành
          Rằng: “Kẻ lâm nạn chính anh lúc này
                    “Mến anh hiến mấy kế hay
          “Đổi đời ắt sẽ có ngày hiển vinh
           “Tội gì phải chịu cực hình?
          “Mà người nào có biết mình là đâu?
                   “Ai khen cái cảnh âu sầu?
     “Ai chê cái cảnh vừa giàu, vừa sang?
                   “Phải phân cho rõ thau, vàng
  “Như tôi nhà cửa giàu sang mọi bề”
              “Nghe nó nói thật tởm ghê
     “Tôi chửi thẳng mặt, chẳng hề ngại chi
              Rằng: “Mày khâu miệng lại đi!
     “Loại mày thì có ra gì mà so
     “Cái đồ cá rúc, nhái bò
      “Chúng mày chẳng đáng học trò của tao!”
              “Ngọt ngào chẳng thuyết phục tôi
      “Chúng dùng bạo lực liên hồi khảo tra
              “Roi, gậy gẫy tướp đầy nhà
  “Áo quần đẫm máu, thịt da tím bầm
          “Ngất đi, tỉnh lại mấy lần
     “Khiến tôi nằm liệt, tay chân rã rời
          “Mắt hoa đảo lộn đất trời
     “Ruột gan như nát tơi bời nôn nao
  “Đánh cũng chẳng được lời nào
     “Chúng mở cửa ngục đẩy vào chờ khai
          “Xà lim như chiếc quan tài
      “Hai bên trên dưới ván dài bê tông
          “Ván ngắn sắt thép ghép lồng
  “Âm u, trời đất chẳng trông thấy gì
          “Đêm ngày ngồi chẳng được đi
     “Ăn đói, ở bẩn, ngủ thì chẳng yên
           “Lời độc mạt sát liên miên
     “Dù phải, dù trái chửi liền chẳng suy
  “Tai bay vạ gió bất kỳ
     “Vu oan, giáo họa ấy khi chung phòng
          “Phòng giam chung khá rộng lòng
     “Hơn trăm can phạm nhốt trong một nhà
          “Lưu manh, quỷ quái, tinh ma
  “Lao, ghẻ, lở, lậu thế mà nhốt chung
          “Côn đồ luôn rắp thị hùng
     “Cướp ăn, trấn lột vô cùng tang thương
          “Kêu ai trong bốn bức tường
     “Trời cao vời vợi đâu thương tới mình
  “Thôi đành nhắm mắt làm thinh
     “Miệng chó, võ ngựa thiệt mình làm chi
          “Khổ đau tôi chẳng sá gì
          “Quên thân vì nước đã ghi lòng mình
          “Đến khi đất nước hòa bình
  “Trong đợt trao trả tù binh tôi về”
          Lời anh nói đến thảm thê
     Ai ai cũng phải dầm dề lệ rơi
          Đêm về chuyện đã tạm vơi
     Phổ còn tranh thủ thăm chơi mọi nhà
  Xóm gần cho đến thôn xa
     Còn dành giờ ngọc thăm nhà người xưa
          Tháng năm nhợt sắc nắng mưa
     Lỡ duyên nặng nghĩa, dư thừa hiếu chung
          Xót xa thắt ruột khốn cùng
  Tủi thương chăn gối lạnh lùng gió đông
          Thăm mẹ rồi đến bên Hồng
     Tĩnh tâm trò chuyện như không biết gì
          Nhẹ như bấc, nặng như chì!
      Người thì bình thản, người thì vấn vương
  Lánh nhìn lòng lại càng thương!
      Càng thương!Càng thấy khó đường nói ra
          Bất chợt Trình bước vào nhà
     Ôi sao cảnh ngộ thật là trầm kha!
          Liên tục hút thuốc, uống trà
  Chẳng biết ai khách, ai là chủ đây!
          Chớm vơi chén, lại rót đầy
     Người nào cũng muốn dùng tay thay lời
               Dễ nói chỉ mấy câu mời
     Mời hút thuốc nữa, lại mời uống đi!
  Cái chân chỉ muốn bước đi
     Mà người lại nặng như chì nén vai!
          Trình đã soạn được một bài
      Chầm chậm lên tiếng trước hai bạn đời
          Rằng: “Xưa trầu đã gói lời”
 “Phổ, Hồng thề nguyện trọn đời kết giao
          “Tin sét lật đổ núi cao
     “Duyên nguồn nghẽn lối ân trao cho Trình
          “Phúc lai, tình lại vẹn tình
     “Còn người, còn nghĩa vẫn mình, vẫn ta
  “Trước sau nay vẹn một nhà
     “Trình mong Hồng, Phổ vẫn là như xưa
          “Trải qua sóng lửa nắng mưa
     “Nay ta thay cảnh vẫn chưa muộn gì!
          Dứt lời Phổ vội gạt đi:
  “Nghĩa cao, tình thẳm chẳng gì đổi thay”
          “Có ai muốn cái cảnh này
     “Xa nhau lòng những mong ngày gặp nhau
          “Đã rồi! Xin giữ trước sau
     “Đừng nên thay đổi tôi đau cắt lòng!
 “Tình bạn ta vẫn trắng trong
      “Mong chiều mai được chung dòng niềm vui
          “Những xưa khép kín đẩy lùi
     “Chung tay ta sẽ xây vui mới là
          “Vui là chung của chúng ta
  “Nếu không thay đổi mới là tình thương!”
          Hồng ngồi nghe đã tỏ tường
     Bần thần nén nỗi vấn vương trong lòng
          Xót xa đứng giữa hai dòng
     Cắm sào quấn tủi, nỗi lòng lao đao
  Bây giờ thì biết nói sao
     Mà lòng chất chứa biết bao nhiêu lời
          Tâm tư mới cũ rối bời
     Thôi thì chỉ biết lặng ngồi mà nghe
          Trình rằng: “Nói đến tình thương
  “Ở đời cũng có nhiều đường khác nhau
          “Lòng ấy muốn giữ một màu
     “Thì đừng nên để dồn đau lòng này
          “Nghìn năm ngờ có hôm nay
     “Phổ về cả xã được ngày vui chung
 “Huống xưa ta đã bạn cùng
      “Thương nhau thì phải biết dùng tình thương
          “Nhớ lại quá khứ dặm trường
     “Miếng cơm, hạt muối cũng nhường cho nhau
          “Đã là trọn nghĩa trước sau
“Duyên vàng nhường lại cho nhau mới là
          “Cũng nên nghĩ tới người ta
     “Thủy chung đã trọn dứt ra sao đành
          “Nát lòng khi thấy gẫy cành
     “Mà tình vàng ấy vẫn dành cho ai?
 “Thương yêu bố mẹ hôm mai
     “Chăm sóc sớm tối hơn hai năm trời
          “Phớt lờ ong bướm ở đời
     “Tấm lòng vàng ngọc khắc lời hiếu chung
          “Lánh người tài đức khôn cùng
  “Với tôi tàn tật lại chung duyên tình
          “Ơn người thương mến đến mình
     “Nay lòng xin nguyện trắng tinh bạn đời
          “Mong rằng Phổ hãy nhận lời
     “Để cho trọn vẹn tình đời chúng ta
  “Như thế thì mới gọi là
     “ Tình sâu nghĩa nặng đượm đà cả hai
     “Gian nan từng trải đường dài
     “Gan vàng, dạ sắt, sao phai duyên màu?”
          Đang tươi đổi sắc thành sầu
 Phổ nghèn nghẹn giọng lựa câu đáp lời:
          “Trình ơi! Lòng dạ biển trời
     “Ắp đầy thuyền nghĩa, chở lời ơn anh!”
          Động lòng Hồng những sụt sùi
      Xốn xang duyên mới, ngậm ngùi tình xưa
  Rằng: “Bên Trình một năm thừa
      “Tháng ngày sóng gió, nắng mưa có Trình
          “Thương người quá nỗi thương mình
     “Rút tơ, luộc nhộng, nấu tình xót xa
          “Lòng nào thêu gấm, dệt hoa?!
  “Muốn phơi nắng gió phôi pha một đời!”
          Tâm can vò xé tơi bời
     Mắt mờ, giọng nghẹn, hồn rời khỏi hoa
          Thương ơi! Lặng ngất giữa nhà
     Ôm chân, ôm cổ, xót xa hai lòng
  Tỉnh ra, lệ nóng tuôn dòng
     “Thề xưa, xối xả những mong giữ lời
          “Ân nghĩa đành trải đôi nơi
     “Tình đầu nối lại, một đời một dây
          Bình vơi sẻ nước ắp đầy
 “Cơm sôi giảm lửa, căng dây nới chùng”
          “Các anh đã một ý chung
     “Tim em một nhịp hòa cùng các anh”
          Hoa xưa lại được nhập cành
      Ơn người rộng lượng ghép lành gương tan!
  Nhìn nhau sung sướng dâng tràn
     Sáu mắt giao chuyển cùng san vui vầy
          Hẹn hò tay với bắt tay
     Một tay đưa tới, bốn tay nắm vào
          Cây vườn rung lá lao xao
 Trăng già ngấp ngó, nhòm vào mừng ghê!
        Tạm biệt Trình trở ra về
     Giữa đêm thôn xóm bốn bề vắng tanh
          Mừng rằng duyên đã ghép thành
     Mong cây duyên ấy sinh cành nở hoa

  Hào hiệp đại lượng đã là
Hẹn hò tay với bắt tay
Một tay đưa tới, bốn tay nắm chào.

*
*     *
     Nên anh, nên bạn chính ta lúc này
          Sáng ngày Trình lựa ý hay
     Đon đả bên mẹ giãi bày chuyện riêng
          Những mong mẹ khỏi buồn phiền
  Mong mẹ chung một ý riêng của mình
          Mẹ nghe trầm tĩnh lặng thinh
     Não lòng con phải dứt tình vấn vương
          Thế gian suốt những dặm trường
     Tình riêng nào thấy ai nhường cho ai!
  Sụt sùi nước mắt vắn dài
     Thương con, rồi lại thương ai quá nhiều
          Nỗi người núi cũng phải xiêu
     Hạn lòng, úng mắt, mẹ chiều các con
          Để cho tình nghĩa vẹn tròn
      Trước sau xem vẫn là con trong nhà!
          Mẹ lại ngẫm đến chuyện xa
     Gặp bố mẹ Phổ nói ra chuyện này (18)
              Mẹ ngồi thủ thỉ giãi bày:
     “ Nuôi con ai cũng mong ngày xe duyên
     “Nay đà được hưởng phúc tiên
     “Cháu về đâu phải vui riêng ông bà
          “Nôm na chẳng phải nói xa
     “Tôi coi cháu Phổ cũng là con tôi
“Đồ cưới tôi chuẩn bị rồi

  “Nối duyên cho cháu tôi trao ông bà
          “Vui là chung của chúng ta
     “Duyên như duyên cháu mới là tình duyên
              “Ông, bà đừng có lo phiền
     “Vì tình, vì nghĩa nhận liền cho tôi!”
  Bố Phổ xúc động bồi hồi
     Mẹ Phổ tuôn lệ lặng ngồi thẩn thơ
          Phúc trùng lai mấy ai ngờ
     Mười năm vui kém một giờ hôm nay
          Đêm trường rút ngắn thay ngày
  Núi non buồn tủi đã thay thành mừng
          Dòng vui cuộn chảy không ngừng
     Khiến người mừng giãn phẳng từng nếp da
              Ông nhà chầm chậm đáp lời:
     “Ơn bà tạc dạ tận đời không quên
      “Nghĩa này biết lấy gì đền?
     Duyên cháu nó được chắp nên nhờ bà!”
          Mẹ rằng: “Xin chớ nề hà
     “Chuyển hết đồ cưới dưới nhà lên mau
          “Thiếu gì rồi hãy lo sau
 “Mười phần ta đã hiểu nhau cả mười
          “Muôn sự do ở lòng người
     “Thiệt, hơn chẳng sá tiền mười, tiền trăm”
              Giữa thu ngày tốt sau rằm
     Bắt tay lo việc trăm năm Phổ – Hồng
      Người đến mỗi lúc một đông
     Giúp mừng đồ cưới từng chồng chất cao
          Anh em chẳng vắng người nào
     Ngược xuôi tất tưởi xôn xao dọc đường
          Lồng cồng, chuyển dựng hôn trường
  Gánh trầu, vác ghế, khênh giường, rước hoa
          Người ngồi, người đứng chật nhà
     Ngoài sân rậm rịch người ra, người vào
          Rạp cưới vừa rộng, vừa cao
     Hoa cũ, hoa mới bàn nào cũng hoa
      Chuẩn bị đã một ngày qua
     Hôn trường rực rỡ chan hòa đẹp tươi
          Râm ran tiếng nói, tiếng cười
     Hoa trên nét mặt, người người rợp hoa
          Khói thuốc quyện lẫn hương trà
  Trầu cau nồng đượm vãi già đỏ môi
          Lòng Trình rạo rực bồi hồi
     Cười cười, nói nói thoắt ngồi, thoắt đi
          Anh là hôn trưởng chủ trì
     Vui như chú rể, kém gì cô dâu?!!!
      Hôn lễ tuyên bố bắt đầu
     Lời Trình giới thiệu bằng câu thơ tình
          Rồi kìa, quá đẹp quá xinh
     Đệm đàn chú rể Hồng – Trình song ca
          Lời ca lan trải sóng hoa
 Người thật mà vẫn ngỡ là cảnh tiên
          Chật sân, chật cả mặt hiên
     Chật vườn, chật ngõ, đứng liền ngoài đê
          Dòng người đến, chẳng người về
     Vui sao, vui quá, vui ghê hỡi người!
  Nói rồi lại hát, lại cười
     Cười rồi, lại nói, nói rồi lại ca
          Đẹp hơn bắc đẩu sao sa
     Vui hơn ngày hội quê ta được mùa
          Bồ câu ngơ ngẩn chịu thua
 Gió mây nhũng nhiễu, ngừng đùa hờn ghen
          Ngát thơm trang nhã đóa sen
     Xa gần thiên hạ ngợi khen nức làng
          Quê hương ơi! Những tình vàng
     Sau cơn bão lửa thấy càng sáng trong
 Thực tình nghèo vốn giầu  lòng
     Miệt mài kiếm chọn viết xong chuyện này
          Tạm vui trong lúc nghỉ tay
     Cùng người đồng cảnh giãi bày tâm tư
          Lời lẽ khi thiếu, khi dư
 Khen chê xin nhận cũng như cho vàng
             
  TP Hồ Chí Minh 1998

Ghi chú: 
(1)
Tiêu chun v th lc đi b đội ti thiu phi đủ cân nng 41kg (Loi B)
(2) Trình và Phổ thể lực đạt loại A1 và A2
(3) Truyện Kiều – Nguyễn Du
(4)
Máy bay gic cướp M loi F105 mnh danh là Thn sm loi F4H mnh danh là con ma.
(5) Mượn truyn Kiu – Nguyn Du
(6) Nhà b m Ph
(7) Ngày thương binh lit sĩ 27/7
(8) Bn cùng Ph khi xưa
(9) Qua mt năm để Hng th tang Ph theo tc l quê.
(10) Ý Hng th tang Ph ba năm mi có thể…
(11) Ngày Trình đi b đội
(12) Đi chiến trường Nam B.
(13) Khi xưa ở nhà Trình phụ trách máy bơm nước cho HTX  nông nghiệp
(14) HTX nông nghiệp trích quỹ phúc lợi cử Tú đi học đại học Nông nghiệp
(15)
nông thôn có câu: Trâu đen ăn c, trâu đỏ ăn gà ý nói: Máy cày là con trâu sơn màu đỏ, mà người lái nó c có cơm rượu, tht gà mi làm.
(16) Điển tích Tố Uyên
(17) Điển tích truyện tình Phạm Tải – Ngọc Hoa (Khi Phạm Tải chết, Ngọc Hoa đau đớn và ba năm ấp mộ chồng. Cuối cùng nhờ phép tiên Phạm Tải đã sống lại…)
(18)
Bố mẹ đẻ của Phổ (Gọi theo tục Bắc Bộ) 


*******************************************************************************************************************
Tình quê
TRONG LÒNG BẠN ĐỌC
(Trích 11 bài trong cảm nhận của bạn đọc)
 

I.NGƯỜI HIẾM HOI SÁNG TÁCTHỂ TRUYỆN THƠ   -   Triệu Phong
   Lần đầu tiên tôi gặp Võ sư, Lương y Nguyễn Hữu Khai khi đi cùng nhà thơ Hữu Thỉnh – Phó Tổng thư ký hội Nhà văn Việt Nam ra thăm trại viết Vũng Tàu, tháng 4/1999. Vị Võ sư, Lương y này với tấm lòng yêu mến văn học và niềm trân trọng các nhà văn đã cùng đi với nguyện vọng được thăm hỏi, bắt mạch, tặng thuốc, chăm sóc sức khỏe... cho các nhà văn của chúng ta đang tham gia trại viết. Hành động nghĩa hiệp này của Võ sư Lương y được các nhà văn, đặc biệt các nhà văn, nhà thơ cao niên như Phạm Tường Hạnh, Anh Thơ, Triệu Huấn, Liên Nam, Trần Chinh Vũ... hết sức cảm kích.
   Cũng đêm ấy tại Vũng Tàu, tôi đã có một đêm đàm đạo cùng Võ sư, Lương y. Điều hết sức thú vị là anh không chỉ là một người yêu văn học mà còn là một người sáng tác văn học, với bằng cớ là tập truyện thơ “Tình Quê” của anh mới được Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản vừa được anh tặng tôi đây. Như lời của một nhà thơ uy tín là Vũ Duy Thông viết ở đầu sách, thì: “Tôi đọc Tình Quê với sự thích thú. Chính mình cũng bất ngờ, giống như được xem tranh của thiếu nhi, nghe chèo ở xã hoặc ngồi trước đám rối nước. Thô mộc đấy mà sao hồn nhiên, tươi tắn, thuần khiết như chính dân gian. Thơ Nguyễn Hữu Khai rất giàu chất dân dã, nhất là khi anh thoát được sự kiềm tỏa của những bóng đại thụ...”
   - Câu chuyện của chúng tôi cũng bắt đầu từ đây...
   - Rất cám ơn anh đã cho sách. Tôi rất cảm động về tình cảm của anh với các nhà văn, và bây giờ lại rất cảm kích và ngỡ ngàng về tập truyện thơ này của anh. Nếu có thể, xin anh cho biết anh đã đến với văn học như thế nào và sáng tác truyện thơ này trong bối cảnh ra sao?
   Tôi đến với văn học và viết truyện thơ “Tình Quê” trong một hoàn cảnh hết sức éo le, khắc nghiệt, cũng có thể nói là bất đắc dĩ. Nhưng xin phép anh và bạn đọc đến một dịp nào đó tôi sẽ kể chi tiết cái hoàn cảnh ấy, còn lúc này chỉ xin được tiết lộ là lúc đầu để khuây khỏa và đốt cháy những thời gian vô dụng, tôi viết một truyện dài (không dám gọi là tiểu thuyết) có tên gọi là “Chị Cả”, với câu chuyện từ chính quê hương và những kỷ niệm của tôi. Tôi rất tâm đắc và quyết tâm chuyển truyện này thành thể thơ lục bát. Qua gần một năm tôi đã cơ bản thành công với hơn bốn ngàn câu thơ lục bát (số lượng dài gấp ba truyện thơ “Tình Quê” bây giờ). Truyện chia làm ba phần chính: Phần đầu là tình nghĩa xóm làng, phần hai là vai trò của lớp trẻ. Phần ba là tình duyên vàng ngọc. Bản thảo này được tôi cất giữ như một vật kỷ niệm. Và sau đó là một cuộc sống đầy thăng trầm, khốn khó với hơn chục lần chuyển chỗ ở, rồi ba lần trắng tay phải xây dựng lại cơ nghiệp từ đầu... đã khiến tôi quên đi. Gần hai chục năm, khi nhớ đến thì đã thất lạc gần hết. Chỉ còn một phần viết bằng bút mực đè lên cuốn sách cũ, với nội dung là phần cuối truyện thơ ấy. Gần đây, khi được hội nhập với làng văn, làng báo, tôi mới có dịp đưa nguyên bản phần kỷ niệm này ra cho các bậc đàn anh xem, ai cũng ngỡ ngàng, tâm đắc, đánh giá tốt về phương diện nghệ thuật cũng như sự cần mẫn và nghị lực của tác giả, và động viên tôi “tuốt lại” để in thành sách.
   - Nhưng tại sao như anh kể, “Tình Quê” lúc đầu được anh sáng tác theo thể văn xuôi, sau lại bỗng được anh chuyển thành truyện thơ, một thể loại xem chừng chỉ còn trong hoài cổ, và đến nay ngoài anh ra không một ai sáng tác thể loại này?
   - Tôi yêu Truyện Kiều và Lục Vân Tiên...
   - Trong truyện thơ Tình Quê có một miền quê ven sông Đáy rất đẹp, rất thơ mộng. Phải chăng đó chính là quê hương anh?
   - Vâng, đấy chính là quê hương của tôi, một làng nhỏ bên dãy núi đá vôi nằm ven sông Đáy, với những cánh đồng chấp chới én lượn, với những con người và nghĩa tình như trong “Tình Quê”. Thực sự lúc ấy, và cũng có thể cả bây giờ, tôi không đủ khả năng viết những gì ngoài quê hương mình. Tôi rất yêu quê nhà, khi khốn khó thì lặn lội kiếm sống, khi ổn định lại tìm đường về quê. Thú thật với anh là tôi đã ba lần đem hết vốn liếng của mình để về xây dựng quê nhà. Năm 1995, tôi mất hơn một tỷ đồng tiền đầu tư xây dựng khu nuôi trồng dược liệu, sản xuất thuốc, và kết hợp thắng cảnh tại Thung Cống, xã Hồng Sơn (huyện Mỹ Đức) ngay cạnh xã tôi nhưng bất thành, và tôi đã phải thất vọng ra đi với hai bàn tay vuốt đầy nước mắt. Người ta cho rằng số tôi phải ly hương lập nghiệp. Tôi thì không nghĩ thế...
   - Những tình cảm ấy ít nhất anh vẫn còn văn chương để gửi gắm. Nhưng thực sự qua những sáng tác của mình, ước vọng lớn nhất của anh là gì?
   - Nhà thơ Vũ Duy Thông và nhà văn Võ Khắc Nghiêm cùng nhận định: “Tôi chẳng thể theo nghiệp văn chương được đâu”. Nhưng dù vậy tôi vẫn ham lắm, và luôn tận dụng mọi thời gian để ít nhất cũng tìm lại đủ phần bản thảo truyện thơ cũ trong đầu mình, rồi gọt giũa nó thành một tác phẩm hoàn hảo hơn “Tình Quê” để khỏi phụ tình quê hương cũng như lòng quan tâm của các anh, các bạn.
   - Xin chân thành cảm ơn anh...

    Tháng 4/1999
 


II. Trong sáng một “TÌNH QUÊ” – TÌNH NGƯỜI.
   
   Gần đây Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin mới cho ra mắt bạn đọc cuốn truyện thơ “Tình Quê” của Võ sư – Lương y Nguyễn Hữu Khai. Cuốn sách ít nhiều gây được cảm tình với bạn đọc. Tôi tìm đọc “Tình Quê” trước hết bởi sự hiếu kỳ, tò mò... bởi một võ sư, một thầy thuốc làm thơ.
   Khép lại cuốn sách, tôi thở phào nhẹ nhõm, từ cuốn sách ngộ ra một điều: Sức mạnh chinh phục của “Tình Quê” không nằm ở bút pháp tân kỳ. Cũng không nằm ở cốt truyện giật gân, mùi mẫn, mà nó nằm ở sự thô mộc, trong sáng đến nao lòng của tình người.
   Giữa âm thanh hỗn tạp của cơ chế thị trường, “Tình Quê” như một tiếng đàn bầu trong vắt, dìu hồn người đọc trở về với quê hương, nguồn cội, về với một thời chưa xa, mà bao bề bộn trong cuộc sống thường nhật, nhiều lúc làm ta quên lãng. Đó là những năm tháng hào hùng của dân tộc ở một miền quê đồng bằng Bắc Bộ:
Đa già rủ mát chân đê
Che làng nho nhỏ bên lề núi xanh
Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún méo vành trăng thu
   Được mở đầu bằng cảnh trai làng náo nức trong ngày hội tòng quân, rồi “Tình Quê” cuốn hút người đọc đi qua gần 1500 câu thơ lục bát, với mối tình đẹp như... thơ của Phổ, Hồng, rồi cả của Trình, Tú, Căn nữa, mỗi người một vẻ, một cá tính, một hoàn cảnh do cuộc chiến đưa đẩy. Nhưng tựu chung lại họ đều là những người tốt. “Tình Quê” được khép lại bằng một đám cưới của người trai anh hùng trở về sau chiến tranh với cô gái đảm đang ở quê nhà. Một đám cưới giàu kịch tính và trĩu nặng tình người. Kết cục có hậu như các câu chuyện cổ tích mà ta từng đọc. Qua “Tình Quê” người đọc có cảm giác như đã được biết câu chuyện này ở một làng quê nào đó trên nông thôn miền Bắc. Nghĩa là như một câu chuyện có thật, mà tác giả Nguyễn Hữu Khai chỉ là người kể lại một cách trung thực bằng thơ. Đó chính là sức mạnh của “Tình Quê”. Người đọc thấy yên tâm, tin cậy – như người tiêu dùng không lo xài phải hàng giả. Lại nữa, cách kể chuyện bằng thơ hình như dễ đi vào lòng người đọc, người nghe thì phải. Những câu lục bát quen thuộc dặt dìu, rủ rỉ khơi gợi ký ức người đọc như tiếng mẹ ru ta thuở nào.
   Trong gần 1500 câu thơ, ta bắt gặp nhiều câu tả cảnh, tả tình thật khó.
   Tả tình như:    
Cành nghiêng, lá tướp, hoa nhàu
Ráo mi nước mắt luồn sâu đáy lòng...
   Tả cảnh như:  
  Bóng rơm ấp ủ đàn gà
Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre...
   Những câu thơ tả tình, tả cảnh có sức gợi, như những nét chấm phá trong một bức tranh toàn cảnh: “Tình Quê”.
Bạn đọc tăng phần yêu quý “Tình Quê” khi được biết thêm về tác giả Nguyễn Hữu Khai: Anh sinh ra bên dòng sông Đáy, thôn Kinh Đào, xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức. Tuy còn trẻ tuổi nhưng anh đã là một người từng trải. Hiện giữ cương vị Tổng giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long. Sống xa quê hương, hàng ngày, hàng giờ đối mặt với cơ chế thị trường, với trăm nghìn công việc mà anh vẫn dành thời gian cầm bút làm thơ, viết văn, vẫn dành hồn mình cho nơi sinh thành, đưa đến cho bạn đọc một kỷ niệm trong sáng của một thời. Phải là một người có tâm, người nặng lòng với tình người, tình đời mới có một “Tình Quê” như vậy.
Khánh Châm
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Tây

 



III.  ĐỌC “Tình Quê” NGHĨ VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN THƠ    -   Võ Khắc Nghiêm

   Từ nhỏ tôi đã mê truyện thơ và kịch thơ. Lớn lên khi đã có thơ, có truyện in, có kịch được dựng tôi vẫn khao khát viết truyện thơ và kịch thơ.
   Dù quen biết Lương y, Võ sư Nguyễn Hữu Khai đã khá lâu, đã được đọc thơ, truyện và nhiều bài báo của anh nhưng tôi hoàn toàn bị bất ngờ khi nhận được tập truyện thơ “Tình Quê” in tên của anh gửi tặng. Câu chuyện không mới nhưng mang tính điển hình rất sâu sắc ở mọi miền quê Việt Nam, ngồn ngộn những chi tiết xúc động khiến tôi thực sự bàng hoàng như vừa tìm thấy những gì mình bị đánh mất trong cuộc đời hay đúng hơn mình đã tìm kiếm suốt cả cuộc đời.
   Cùng với cấu trúc hợp lý câu chuyện, Nguyễn Hữu Khai đã xây dựng được các nhân vật với những tính cách riêng mang tính cách nhân ái, cao thượng của người Việt Nam. Chiến tranh gây nên bao đau khổ, bao mất mát cho từng gia đình Việt Nam nhưng chiến tranh dù khốc liệt, dù khổ cực đến mấy cũng không thể làm phai mờ những phẩm chất cao quý của người Việt Nam mà tình làng, nghĩa xóm, tình yêu chung thủy và tấm lòng biết vì nhau đã nâng tầm vóc của mỗi vùng quê. Chính từ chủ đề lớn này “Tình Quê” đã tỏa bóng mát cho tấm lòng người đọc.
   Có thể một số nhà thơ thích trau chuốt chữ nghĩa, thích lối diễn đạt lắt léo cầu kỳ sẽ không đánh giá cao cách viết giản dị, dân dã của Nguyễn Hữu Khai. Nhưng phải có vốn sống thế nào mới nói được tiếng nói dân dã. Phải có tâm hồn trong sáng mới viết được giản dị. Chuyện về người nông dân phải viết đúng ngôn ngữ nông dân và trong chừng mực nào đó phải để cho người nông dân hiểu được, cảm nhận được. Tôi đã gặp khá nhiều bạn đọc là nông dân và công nhân đã nồng nhiệt đón nhận “Tình Quê”. Họ thật sự xúc động và thích thú. Đó là thước đo hiệu quả của một truyện thơ, là phần thưởng quý báu đối với tác giả. Vừa tả chuyện, vừa phải tạo nên hồn thơ, ta không thể đòi hỏi một truyện thơ phải chắt lọc từng chữ nghĩa, đúng niêm luật như một bài thơ Đường.
   Đọc “Tình Quê” ta dễ dàng nhận ra bút pháp của Nguyễn Hữu Khai chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều và một số truyện thơ cổ nhưng không vì thế mà kém đi tính hiện đại:

 
“Nhớ ngày bom ngắt lời ru
Nát hoa đục nước bóng thù vởn mây...”
*
*     *

 “Ơ kìa hai đứa tâm tình!
Mơ màng mẹ đứng ngắm hình hai con...”
*
*     *

 “Bên trái dùng gỗ làm tay
Một mắt trũng xuống trông ngày như đêm...”
*
*     *

 “Lốc lịch mỗi xé mỗi trông
Mỏng đi, dày lại thuyền không tới bờ...”
*
*     *

 “Xóm làng ánh điện thay sao
Trâu ung dung nghỉ, ruộng trao máy cày...”

 
   Nguyễn Hữu Khai đã tạo dựng được một tình huống đầy kịch tính để kết thúc câu chuyện. Đó là đức tính cao thượng của người lính thương binh khi bạn cùng làng của anh đã có giấy báo tử và anh thì bị thương được về quê. Người vợ chưa cưới của anh bạn liệt sĩ lại nối duyên với anh. Họ yêu thương nhau chân thành. Đến ngày tổ chức hôn lễ thì anh bạn lại trở về... Bằng tấm lòng nhân hậu anh đã làm chủ hôn cho đám cưới của bạn mình, khi biết cô dâu vẫn còn nặng lòng yêu thương người tình cũ, cho dù bây giờ anh đã mất tay, mất mắt. Sự kết thúc có hậu tưởng là dễ dãi nhưng rất cao thượng đã trở thành bài học lớn cho mọi thời đại. Tình yêu chung thủy chân thật dù sóng gió, dù xa cách vẫn luôn luôn sáng ngời và được tôn trọng, được mọi người vun đắp. Hạnh phúc chính là biết vun đắp hạnh phúc cho mọi người. “Tình Quê” lấp lánh bao điều tốt đẹp. Quả thật truyện thơ là một thể loại rất khó bởi nó đòi hỏi nhà thơ không chỉ trường sức thơ như nhà kinh doanh trường vốn mà còn phải am tường nghệ thuật viết truyện. Nếu như làm một bài thơ thì ta có thể vừa đi đường hay vừa nhấm nháp ly rượu, sáng tác trong đầu đến thuộc lòng rồi chép ra và gọt dũa lại thì viết truyện thơ phải xây dựng sơ đồ câu chuyện, xây dựng lý lịch nhân vật với diện mạo tính cách rõ ràng rồi hệ thống từng thời gian phát triển câu chuyện. Việc đó không thể vừa đi đường vừa sáng tác, càng không thể làm trong một vài ngày. Có lẽ vì thế mà cuộc sống xô bồ của cơ chế thị trường khiến người ta ít lúc tĩnh tâm dài dài để có thể viết truyện thơ. Được biết Nguyễn Hữu Khai đã viết “Tình Quê” cách đây hàng chục năm và khi rảnh rỗi lại đem ra sửa đi sửa lại. Dù vậy, trong lúc anh bộn bề công việc của một Lương y – Võ sư với công việc của Tổng giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long, lo sản xuất kinh doanh, lo cho trên 300 công nhân có đủ việc làm, có cuộc sống ngày càng khá hơn. Tôi hiểu Nguyễn Hữu Khai không đủ thời gian để hoàn thiện tốt hơn sáng tác của mình. Cuộc đời của anh là một bộ tiểu thuyết đặc sắc mà có lẽ đến lúc nào đó có điều kiện anh sẽ viết được thành truyện thơ cho mình.
   Tôi kính trọng tấm lòng của anh với văn học với một thể loại cực khó và cảm ơn anh đã cho tôi một truyện thơ mà cả cuộc đời tôi mong mỏi, đợi chờ – điều mà tôi không làm được.
   Đừng đòi hỏi quá nhiều ở anh, xin hãy đón nhận, hãy chúc mừng và đánh giá cao “Tình Quê” ở trong tác phẩm và đẫm nặng trong tâm hồn Nguyễn Hữu Khai. Phải yêu quê lắm mới viết được truyện thơ này. Tôi tin rồi Nguyễn Hữu Khai sẽ có một truyện thơ mới thành công hơn, hoàn thiện hơn...

 



IV.  THẾ VÕ VÀ THUẬT Y TRONG MỘT TRUYỆN THƠ HIỆN ĐẠI
(Cảm nghĩ khi đọc truyện thơ Tình Quê của Nguyễn Hữu Khai NXB Văn hóa - Thông tin, 1999)  -  Hoài Anh


   Tôi vẫn thường băn khoăn: Tại sao lâu nay chúng ta không có những truyện thơ lục bát dài như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu ... Kết hợp với cả tả việc, tả người, tả tình, bộc bạch, đối thoại, tâm lý đủ cung bậc tình cảm, vui, buồn, mừng, giận, tiếng cười và tiếng khóc, lời mắng và lời than... trong một tác phẩm dài hàng nghìn câu như một cuộn chỉ lần mãi không hết mà vẫn mạch lạc và nhuần nhị...
   Thật chẳng khác gì thuốc Đông y có  Quân Thần Tá Sứ, có hàn có nhiệt, có bổ có tả nhằm khu phong trừ tà, tráng dương ích khí. Thật chẳng khác gì võ cổ truyền kết hợp các thủ hình quyền, chưởng, câu, kiếm, các bộ pháp: mã, hư, cung, đinh, phốc các cước pháp: đạp, đá, giẫm, quét, các thủ pháp chặt đẩy, kéo, quẳng và bóp, ấn,... mà vẫn hài hòa, có phép tắc. Muốn thế thì phải quán xuyến yếu binh "Thủ nhãn thân pháp, tinh, thần, khí, lực" thông qua các phương thức ngoặt, tiến thoái và công thủ... tạo thành đường lối võ thuật cơ bản. Muốn võ thuật giỏi phải chăm luyện khí công, bởi vì "tại ngoại vi quyền, tại nội vi khí" (ở ngoài là quyền ở trong là khí).
   Đọc truyện thơ “Tình Quê” của tác giả am tường y thuật và võ thuật Nguyễn Hữu Khai tôi lại thấy anh đã vận dụng được tri thức và thủ pháp của nghề nghiệp vào thơ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du còn là một kiếm hiệp, Nguyễn Đình Chiểu là một danh nhân võ thuật, y thuật. Thời xưa có chung nguyên lý Dịch học âm dương ngũ hành, sinh khắc, cái đó cũng ảnh hưởng và tác động đến văn hóa nghệ thuật, góp phần vào thành công của Truyện Kiều, Lục Vân Tiên...
   Chính vì đã học tập được kỹ thuật của những người đi trước kết hợp với bản tính của mình, Nguyễn Hữu Khai đã hàm dương được tính trầm ẩn để tạo cho truyện thơ của mình "nhất khí quán hạ" (liền một hơi suốt từ trên xuống dưới). Đúng như trong lời nói đầu truyện thơ, nhà thơ Vũ Duy Thông đã có cảm tưởng "đọc được một hơi và càng đọc càng ưa". Các nhà dược học Đông y khi phân tích các thành phần của thuốc đều khẳng định rằng chúng chỉ có tinh và khí, tức là đưa chúng ta trở về khi thế giới và sức sống hàm chứa trong đó phương pháp YOGA Ấn Độ và luyện khí công của Trung Quốc là nhằm tích lũy khí và vận hành khí. Nhà Mỹ học Tào Phi cho rằng "Văn lấy khí làm chủ" cũng là điều khí, tức năng lượng sống của vũ trụ mà nhà văn hấp thu, tích lũy được rồi vận hành trên trang viết để tình cảm, tư tưởng thấm nhuần khí sinh tạo của vũ trụ.
Sở dĩ có được sự "nhất khí" ấy vì tác giả đã bố cục cả truyện thơ bằng thế võ kín, liên hoàn không sơ hở. Việc tác giả để cho người đọc tưởng là Phổ đã hy sinh, nhưng sau đó lại để cho anh tái hiện như một miếng đòn nghi binh, dương đông kích tây, nhưng kết vẫn hợp lý, gây được hiệu quả. Việc Phổ xung phong ra trận như một thế "Phượng hoàng chuyển dực" vì hợp với lòng người, cũng là cái kết có kèm theo kiểu truyền thuyết.
   Việc Trình nhường lại mối duyên cho Phổ cũng rất đẹp, rất đôn hậu đúng với đạo lý với ông bà ta từ xa xưa, thích chuyện thủy chung gương vỡ lại lành, thích điều tín nghĩa Châu về Hợp phố. Tác giả cũng theo đúng nguyên lý võ học. Học võ để hộ thân là chính chứ không nhằm tiêu diệt kẻ địch để nhận thua chịu phục, nên tác giả dựng nhân vật Tú để làm nổi bật tính cách của Hồng, nhưng sau đó lại để Tú chuyển biến nhờ sự cảm hóa của Hồng chứ không đẩy sâu anh về phía phản diện. Cũng như trong Đông y, có các vị thuốc đủ mọi tính năng, có trung hòa, có công phạt nhưng cuối cùng cũng nhằm y đức chữa bệnh cứu người.
Như vậy toàn chuyện là sự đấu tranh giữa những người tốt ít, tốt nhiều và quá tốt trong nội bộ nhân dân chứ không phải là sự đấu tranh một mất một còn giữa người tốt và người xấu, ta và địch (bọn địch ở đây chỉ được nhắc qua lời Phổ) tưởng chừng rất khó gây được hấp dẫn nhưng vẫn thu hút được người đọc do cái tình của người viết, cái éo le về cảnh ngộ và tâm lý của nhân vật.
Cảnh vừa đủ để gợi tình, tô điểm cho việc. Bên cạnh những câu tả tình tứ như:
...Mây in mặt nước ngời ngời
Tựa ai chải tóc ngồi nơi xa nhà
Sóng bạc chuyển chiếc lược ngà
Tóc dài, dài mãi dài xa chân trời
Cũng có những câu mang tính khắc họa:
Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún méo vành trăng thu
Tả cảnh có những câu tường thuật rất mới mẻ nhưng vẫn gây được xúc động:
... Lốc lịch mỗi xé mỗi trông
Mỏng đi, dày lại thuyền không tới bờ
... Chẳng duyên nên nghĩa nên thân
Lòng mây xin được luôn gần núi non
Tả người tác giả không chú trọng tả dáng hình người mà thông qua độc thoại và đối thoại để tả tính cách nhân vật:
Dù tôi kém đức kém tài
Thuyền tôi, tôi lái, khiến ai vịn chèo
Hãy đừng giở giọng eo sèo
Ốc lê thân ốc, còn đèo thêm rêu
Buông lời như chửi như trêu
Hỏi ai, ai đã tốt đều hay chưa?
Âu là tài đức dư thừa
Cớ sao cầm gậy che mưa cho người!
Cũng có những câu vẽ ra được tâm lý nhân vật:
... Đành rằng ép có thể trôi
Lại e vung hở thì nồi sống cơm
Làm trai như một cái nơm
Sông dài đồng rộng cá thơm thiếu gì!
Những nét trên còn có thể là tâm lý muôn thuở, nhưng câu sau đây thì rõ ràng màu sắc hiện đại:
...Trâu đen cắt cỏ cho trâu
Trâu đỏ thì lấy gà đâu cho vừa?
Cơm thường thì họ chẳng ưa
Mà đến nỗi ấy cày bừa ra chi
Làm lại quá tội làm đi,
Mà giở chè chén rồi thì tính sao?
Tiêu chuẩn có được là bao?
Quá tay thì biết gọt bào thân ai?
Có răng thì để răng nhai
Không răng cứ lấy lợi mài cũng xong
Có ý triết lý cũng được thể hiện một cách hồn nhiên:
Bình vơi sẻ nước ắp đầy
Cơm sôi giảm lửa, căng dây nới chùng
Nhưng cũng có khi diễn tả những điều khúc mắc:
... Ân nghĩa đành trải đôi nơi
Tình đầu nối lại một đời một dây
Tả việc có khi tinh tế:
... Lời người nước lướt lá khoai
Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương.
 Tả nội dung mang hàm súc tâm trạng sâu sắc, mang quyết tâm tuyệt đối hy sinh vì người:
 Tình đời vắt nước tưới hoa
Mong sao cho mẹ cùng cha vui lòng.
   Truyện thơ “Tình Quê” được diễn ra như những trận tỷ thí ác liệt, như diễn biến của những căn bệnh ngặt nghèo, rồi với tài cảm hóa với tài mát tay phục dược làm cho càng thêm đoàn kết gắn bó trong sáng tình đời và tôn vinh sức mạnh vô song, bất diệt của lương tri đạo đức. Tất cả những sự kiện ấy được thông qua thể thơ lục bát như hơi thở nhịp nhàng từ một tác giả đa năng.
4/1999
 



V.   TÌNH NGƯỜI QUA MỘT TRUYỆN THƠ
(Đọc truyện thơ Tình Quê của Nguyễn Hữu Khai NXB Văn hoá-Thông tin 1999)   -   Vũ Tuấn Anh

   Đầu tiên là một cảm giác ngỡ ngàng khi cầm trên tay tập truyện thơ. Truyện thơ? Đã lâu lắm rồi, có lẽ hàng chục năm nay, hay hơn nữa, mới gặp lại một tập truyện kể bằng thơ. Giữa lúc thơ hiện đại đã cố băng mình về phía những tìm tòi mới lạ mà dám lội ngược dòng, chọn một hình thức thể loại có thể như đã lạc “mốt”, chỉ riêng điều ấy cũng nói một định hướng, một chủ đích đầy tự tin của tác giả Nguyễn Hữu Khai khi viết truyện thơ này. Những dòng lục bát giăng hàng trên những trang giấy in đẹp, thêm tranh vẽ minh họa, dưới “đề” thơ cho rõ ý tranh như những truyện thơ nôm thời nào. Một truyện thơ theo thể lục bát, trong sự trang trọng của chất liệu giấy in rất đẹp, vẫn gợi nhắc một cái gì đó mộc mạc, quen thuộc.
   Một bất ngờ thú vị nữa khi lật trang bìa sau, gặp một tấm ảnh tác giả với vài dòng giới thiệu: Một Võ sư, Lương y, một nhà kinh doanh – Tổng giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long mà sản phẩm đã quá quen thuộc trên thị trường lại là một nhà báo, Trưởng ban biên tập chuyên san Thể thao Khỏe đẹp. Có lẽ đấy là những điều kích thích thú vị đầu tiên để một người đọc như tôi vốn thích thơ mà lâu nay lại đọc thơ, nhất là thơ dài – phải đọc cả cuốn truyện thơ dài một ngàn rưỡi câu này. Không có những câu thơ phát tiết, họa sĩ minh họa cũng không thấy những kỹ xảo của người có nghề. Tác giả chỉ đóng vai người kể chuyện bằng thơ, một câu chuyện của người trai anh hùng – gái đảm đang thời chống Mỹ. Cốt truyện cũng đơn giản: Phổ, một chàng trai trong lứa tuổi trẻ quê hương xung phong lên đường đánh giặc, và người yêu Phổ là Hồng ở nhà đảm đang việc nhà, việc HTX, chăm sóc bố mẹ người yêu như nàng dâu thảo. Tin Phổ hy sinh đã làm tan nát lòng Hồng. Rồi đám cưới của Hồng với Trình – Một thương binh, bạn thân của Phổ đang được chuẩn bị rộn ràng thì Phổ trở về sau những chiến công anh hùng và cảnh tù đày khốc liệt trong tay kẻ thù. Bao nhiêu éo le dang dở ấy được giải tỏa, vun vén bởi tình người, tình bạn cao cả và hào hiệp. Truyện có xúc cảm gợi được không khí, đưa người đọc trở về với thời đã xa để sống với năm tháng hào hùng thời đánh Mỹ. Không thể thiếu những khung cảnh trữ tình thơ mộng của làng quê. Đây là cảnh hai người yêu nhau trước giờ chia tay:
“... Đầm sen ngào ngạt tỏa hương
Khăn đàn lãng đãng dọc mương tới hồ
Ngút ngàn mườn mượt nương ngô
Nắng chiều gieo bạc xuống hồ lăn tăn
Khoan khoan trên chiếc thuyền nan
Hồng chèo, Phổ hát, Phổ đàn Hồng nghe...”
Đây đó có thể gặp những hình tượng thơ độc đáo:
“Lời người nước lướt lá khoai
Lời nhà xem cũng đọng vài giọt sương...”
Những cặp lục bát sóng đôi ý định:
“... Ý thơ nặng nghĩa nặng tình
Nghe mà thấy cả dáng hình người xa...”
Những bức tranh phong cảnh có hồn:
“... Bóng rơm ấp ủ đàn gà
Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre
Tiếng ve ra rả gọi hè
Dọc đường phượng vĩ đỏ hoe nắng tà...”
   Đã miêu tả tâm lý trong một cuộc hội ngộ tay ba quả không dễ dàng. Phổ trở về, ngồi bên Hồng – Trình người yêu xưa, người bạn cũ nay đang sắp thành vợ thành chồng. Bao nhiêu éo le của hoàn cảnh và tâm trạng. Tác giả đã viết được những câu thơ không dễ viết chút nào:
“... Liên tục hút thuốc uống trà
Chẳng biết ai khách ai là chủ đây?
Chớm vơi chén lại rót đầy
Người nào cũng muốn dùng tay thay lời
Dễ nói chỉ mấy câu mời
Mời hút thuốc nữa lại mời uống đi
Cái chân chỉ muốn bước đi
Mà người lại nặng như chì nén vai...”
   Ở đây, chút về lúng túng của lời thơ xem ra lại rất hợp và rất đạt những bối rối, khó xử của hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật.
   Trong truyện có những cảnh sinh động như cảnh tòng quân náo nức, cảnh khai hoang phục hóa đông vui tiếng nói tiếng cười. Có những đoạn trầm lắng của suy nghĩ tâm tư. Thấp thoáng thơ Kiều, thấp thoáng ca dao trong những thưa gởi, chuyện trò đưa đẩy. Những người lính từng dời quê hương ra trận, lứa thanh niên vào thời ấy nay đã vào tuổi 50. Không ít thì nhiều, chắc sẽ tìm thấy đôi chút bóng dáng mình, khung cảnh quê hương mình, cùng những niềm vui nỗi buồn thuở ấy. Một điều đáng quý là người ta nhận ra cái tình quê đằm thắm của người viết. Tình quê thắm đượm tình người, cảnh vật lẫn vào câu chữ, lời ăn tiếng nói. Tác giả viết như trải lòng mình trên trang giấy như sống lại một lần nữa những gì mình đã trải, khơi dậy những ký ức đã hằn sâu vào kỷ niệm của một thời trận mạc khi bị tù tội đày ải. Anh viết để san sẻ cùng người đọc đã đành nhưng phải chăng anh viết để trang trải món nợ tinh thần với quê hương, đồng đội, bạn bè và cả chính mình. Có như thế mới có thể ấp ủ từng câu thơ trong lòng mình để rồi câu nọ tiếp câu kia một nghìn rưỡi câu thơ dệt lên một câu chuyện đậm đà ý vị gửi đến người đọc.
“... Tạm vui trong lúc nghỉ tay
Cùng người đồng cảnh giãi bày tâm tư
Lời lẽ khi thiếu khi dư
Khen, chê xin nhận cũng như cho vàng!...”
   Có những người làm thơ để phô diễn tài thơ. Có những người làm thơ chỉ để tìm sự sẻ chia đồng cảm. Thơ Nguyễn Hữu Khai chưa nhiều tài, nhưng hồn nhiên, tự nhiên và giàu sự chân thật của tấm lòng. Chính sự chân thật ấy quyến rũ những dòng thơ...
 



VI.  LỜI CẢM NHẬN VỀ TRUYỆN THƠ “Tình Quê” CỦA NGUYỄN HỮU KHAI   -   Đoàn Vy

   Nhận được tập truyện thơ “Tình Quê” của Nguyễn Hữu Khai (NXB Văn hóa - Thông tin 1999) vào thời điểm này, tôi thật sự phục lòng dũng cảm của tác giả. Song cũng chính bởi sự thiêng liêng, sự thôi thúc của tình yêu tha thiết quê hương đất nước, cùng những ký ức của một thời oanh liệt, đầy kiêu hãnh (mà có thể chính tác giả là người trong cuộc) không thể không cho ra đời tác phẩm trên.
Thực lòng nghèo vốn, giàu lòng
Miệt mài kiếm chọn viết xong truyện này
... Thường khi đánh bại quân thù
Khểnh lưng trên chiếc võng dù ngắm trăng
   Tôi đồng tình với nhà thơ Vũ Duy Thông khi nói: “... Tôi đọc “Tình Quê” với sự thích thú. Chính mình cũng bất ngờ, giống như được xem tranh của thiếu nhi, nghe chèo ở xã hoặc xem rối nước. Thô mộc đấy mà sao hồn nhiên tươi tắn, thuần khiết như chính dân gian ...và... xin đừng tìm ở đây một áng thơ trác tuyệt của người dày dạn với nghề...thơ, và v..v...
Song cũng không thể không nhận ra đôi chỗ, đôi nơi có những câu, những đoạn đáng nhớ, đáng khen và cũng khá...mới:
...Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún, méo vành trăng thu
*
*     *

... Bánh xe cuốn gió lao xao mặt đường...
*
*     *

 
 “Suối đàn uốn nước vui tai
Lách qua khóm trúc nhành mai gập ghềnh
Trong xanh hồ rộng thênh thênh
Tơ đồng sôi động bập bềnh thuyền nan.
*
*     *

...Đêm trường, Hồng những tương tư
*
*     *

...Vầng trăng vằng vặc giữa đêm
Cây in hoa xuống mặt thềm lung linh
Rồi: Quê hương ơi! Những tình vàng
Sau cơn bão lửa thấy càng sáng trong
   Bình dị, sáng trong, chân thật và đậm tình. Ta vẫn còn hy vọng ở Nguyễn Hữu Khai những vần thơ, bài thơ đẹp hơn nữa, trăn trở hơn nữa và ... mới hơn nữa.
TP Hồ Chí Minh, 03/1999
 




VII.   TRÂN TRỌNG VÀ ĐỒNG CẢM VỚI LỜI NÓI ĐẦU CỦA TRUYỆN THƠ “Tình Quê”   -   Nguyễn Hữu Thường

   Vốn là giáo viên dạy chuyên văn, lại là người nhà của tác giả, buổi ấy, tôi may mắn “được gặp” nhà thơ Vũ Duy Thông trên màn hình VTV1 đang bình thơ Nguyễn Bính vào một đêm cuối tháng giêng 1999 (Kỷ Mão). Mấy ông chú tôi reo lên: “Ông Vũ Duy Thông! Có phải nhà thơ viết lời nói đầu tập thơ “Tình Quê” của anh Khai không anh giáo”?
   Vâng!, Tôi vui sướng ngắm nhìn nhà thơ như muốn nuốt từng lời bình trên vô tuyến và tôi tái tạo trong trí nhớ: “... Anh bạn này đến lạ, cái gì cũng đam mê từ bắt mạch, kê đơn, châm cứu, múa võ, trường đao, đoản kiếm, khai phá đồn điền, kinh doanh sản xuất đến viết văn, viết báo và... làm thơ. Lạ hơn nữa không việc nào Khai không vắt kiệt sức mình, không hết lòng. Người thế thì lận đận là phải, đèo bòng đa mang chữ tình là phải”... Nhà thơ Vũ Duy Thông đã hiểu và thương mến, cảm thông với em tôi đến thế là cùng!.
   Đêm đó tôi đọc lại “Tình Quê” và tôi không có ý “hát hay, khen lấy” mà muốn trộm “đánh trống qua cửa nhà sấm”.
   Tôi thực sự tâm đắc và rung động bởi hai câu kết đoạn gần cuối truyện:
“... Quê hương ơi! Những tình vàng!
Sau cơn bão lửa thấy càng sáng trong”
   Tiếng gọi quê hương mới tha thiết làm sao? Tự hào làm sao? Và trở lại bốn câu thơ “phát đoạn” mở đầu truyện thơ:
“... Đa già rủ mát chân đê
Che làng nho nhỏ bên lề núi xanh
Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún, méo vành trăng thu...”
   Là cội nguồn cảm xúc bài thơ. Đó là bức tranh miền Bắc Việt Nam đã đi vào tiềm thức mỗi người. “Cây đa, bến nước, dòng sông”... Miền quê ấy chắc hẳn là thôn Kinh Đào, xã An Mỹ – huyện Mỹ Đức – tỉnh Hà Tây.      Một miền quê thật thanh bình, sống động vui tươi, nhộn nhịp mà nhà thơ Vũ Duy Thông chưa một lần đến thăm quê tôi nhưng đã cảm nhận: “Ta như trở về một vùng quê chân chất, mộc mạc mà giàu tình nghĩa, ta như sống lại thời ba bốn chục năm trước ta đã sống, nơi ấy nô nức ngày hội tòng quân, trai làng khai gian tuổi, cho đá vào túi quần mong đủ cân để nhập ngũ, nơi ấy chàng trai ra trận, cô gái ở nhà chăm mẹ người yêu như phận dâu con. Nơi ấy, HTX kiến thiết đồng ruộng, khai hoang phục hóa  dưới bàn tay chèo lái của người con gái đảm đang...”.
   Nguyễn Hữu Khai phải “xa quê” nhưng như luôn ở bên quê đã đưa vào thơ cái chân, cái thiện, cái mỹ. Xã An Mỹ quê tôi có gần 5.000 dân mà có tới 200 liệt sỹ, 18 bà mẹ Việt Nam anh hùng, và đáng tự hào quê tôi có anh hùng quân đội Vũ Trung Thướng.
   Đúng như nhà thơ Vũ Duy Thông nhận xét:
   “... Truyện thơ tình quê phảng phất ca dao, dân ca:
“... Anh ơi! Dù ở nơi đâu
Lòng em vẫn giữ một màu trắng trong...”
“... Dẫu rằng tình đã đoạn dòng
Nước còn càng phải giữ trong mới là...”
   “Tình Quê” đã dựng mối tình đẹp như truyện cổ tích, như “Lục Vân Tiên”, như “Truyện Kiều”. Nguyễn Hữu Khai đã vẽ lên bốn nhân vật với tính cách điển hình: Phổ (người yêu đầu tiên của Hồng, đi bộ đội, có tin báo tử, sau lại trở về), Tú (Kỹ sư nông nghiệp), Căn (Thầy giáo dạy văn cấp 3), Trình (cùng đi bộ đội với Phổ, là thương binh trở về quê hương), bốn nhân vật là “Tứ hùng” lại chỉ có một Hồng “Nhất nữ thuyền quyên” thật là đẹp mỗi “anh hùng” một vẻ, một tính cách, Khai đã miêu tả tính cách giao tiếp của nhân vật, nội tâm của nhân vật và phong cảnh khi mỗi nhân vật đến tỏ tình với Hồng một cách hợp lý, hài hòa, tế nhị.
   Với Phổ - Hồng mối tình đầu của đôi trai gái thôn quê mới lớn lên và được đính hôn (ăn hỏi):
“... Trời đà lấp lánh sao mai
Mà lời tơ vẫn kề tai chẳng dừng
Ngả người tay với qua lưng
Ấm đầm hai má, bừng bừng lòng ai
Lời ra rung nghẹn một, hai
Tay nâng, tay níu, ghé tai thầm thì...”
   Với Tú một kỹ sư kiêu ngạo, người cùng quê, sau khi tốt nghiệp Đại học về quê công tác...
“... Thỏ thẻ tiếng bé, tiếng to
Giọng cười thiếu muối như ho trong kèn
Rơm cháy thi sáng với đèn
Lưỡi lửa léo lắt liếm đen trôn nồi...”
   ... Và rồi:
“... Tú nghe ngẩn mặt xót xa
Ruổi dong theo đuổi nay đà thất duyên
Khéo che nét mặt nuốt phiền
Còn gì mà nói, đành liền bước ra
Gượng cười tạm biệt qua loa
Ngẫm với chẳng được vì hoa cao cành...”
   Với thầy giáo Căn dạy cấp 3, một con người có tri thức, đẹp người, đẹp nết:
“... Dáng người cao ráo đẹp tươi
Long lanh mắt ngọc miệng cười như hoa...”
   Khi tỏ tình với Hồng:
“... Mây trăng đùa dưới giếng đình
Gió hiu hiu thổi rập rình ngọn tre...”
*
*     *

 “... Thấu tâm, nắng lửa mưa dày
Chuyển lòng lời lẽ mây bay chiều hè
Người sao ăn nói dễ nghe
Khiến cho thông, liễu, trúc, tre rủ cành...”
   Với Trình – Bạn cũ cùng làng đi bộ đội cùng Phổ bị thương trở về:
“... Vầng trăng vằng vặc giữa đêm
Cây in hoa xuống mặt thềm lung linh
Sương rung dải lụa ẩm tình
Lập lờ hai bóng một hình đẹp ghê...”
*
*     *

 “Lâng lâng giao mắt lặng thinh
Nhịp tim, hơi thở của mình hay ai
Men tình rút ngắn đêm dài
Chuyện trò tiếp nối sáng mai bao giờ !...”
   Với tứ thơ nội dung dường như đã bị uốn ép một cách cực nhọc nên vần để người đọc thấy êm xuôi của nhịp thơ sáu, tám biến đổi khôn lường, dễ thuộc, dễ nhớ và để mô tả “nơi ấy có nhiều nước mắt mà không bi lụy nhiều mối éo le, trắc trở kể cả nhường vợ chưa cưới cho bạn mà vẫn đằm thắm trong sáng tình người”.
   Trường chuyên văn huyện Mỹ Đức năm 1995 được Lương y Nguyễn Hữu Khai đến thăm, nhân tài trẻ quê hương tài trợ cho thầy trò những tấm áo, những cuốn vở và tủ sách dùng chung. Trong dịp đón xuân Kỷ Mão mỗi thầy trò trong tay lại có “Tình Quê” để rồi tự hào và càng yêu quý quê hương. Quê hương có thắng cảnh Hương Sơn, quê hương Hà Tây quê lụa: Áo giáp Thủ đô – và lòng thầm ước nguyện sống tươi đẹp hơn.
Hà Tây, ngày 06/3/1999
 



VII.   TÌNH QUÊ  MỘT TRUYỆN THƠ ĐẶC SẮC   -   Bùi Bình Thi

   Trong nhiều năm nay trên văn đàn vùng thơ thường chỉ có những tập thơ bài ngắn tựa như những bản ca khúc thôi thì đủ mọi kiểu thơ ở trong vô số những tập thơ gồm nhiều bài thơ ngắn mà tác giả tập hợp lại ấy. Rồi cũng có một số tập thơ trong đó là thể loại trường ca. Hay dở của thể loại này hoặc thể loại kia thì có thời gian để mà bàn, mặc dầu đã bước sang thế kỷ XXI. Tuy vậy, có một thể loại thơ thấy hiếm khi xuất hiện, đó là truyện thơ. Cũng như kịch thơ, tôi không rõ những ai mê kịch thơ. Nhưng thể loại này trước 1945 đã thấy có tuy không nhiều, cả trong kháng chiến chống Pháp cũng xuất hiện những đêm kịch thơ trong rừng Việt Bắc.
   Trở lại truyện thơ bây giờ rất hi hữu, ấy vậy mà lại xuất hiện có tên là “Tình Quê”, truyện thơ của tác giả Nguyễn Hữu Khai do Nhà xuất bản Văn hóa  – Thông tin ấn hành.
Tác giả tặng tôi tập thơ này vào đầu năm nay, tôi cầm về và càng đọc thì càng trân trọng với những gì mà tác giả Tình Quê gửi gắm ở đây. Có lẽ, tôi có thuận lợi hơn nhiều bạn đọc là tác giả cùng quê với tôi; điều quan trọng hơn, nhà tác giả tôi đã về thăm, đứng bên này trên tầng gác thượng nhà Nguyễn Hữu Khai, nhìn qua sông Đáy sang đất Ứng Hòa là huyện nhà tôi.
   Quê của Khai xanh biếc cây và yên ả, êm đềm quá, nhà gạch san sát và đồng đất bãi chạy phẳng lỳ vào đến tận chân núi. Cây trái sum suê trong rất nhiều vườn nhà. Đứng trên cao nhìn xuống càng đẹp, mái ngói màu xanh nâu lấp ló trong tán cây màu xanh rì. Những nhánh đường lát gạch, hon đa chạy làm cho cảnh sắc thêm sinh động và đáng yêu.
   Sở dĩ tôi nhắc đến quang cảnh làng quê Khai là vì, đọc truyện thơ của anh, tôi thấy mồn một. Nhất là cái âm hưởng của thơ lục bát làm cho không chỉ “Tình Quê” mà cả cảnh quê, người người trẻ già gái trai của quê mình đã hiện lên rất sống động trong truyện thơ này của anh.
   Xin hãy đọc một đoạn về cảnh trí đẹp và gợi cảm xúc nồng nàn ở đây:
“... Đầm sen ngào ngạt tỏa hương
Khăn, đàn tha thướt dọc mương tới hồ
Ngút ngàn mườn mượt nương ngô
Nắng chiều gieo bạc xuống hồ lăn tăn
Khoan khoan trên chiếc thuyền nan
Hồng chèo Phổ hát, Phổ đàn Hồng nghe
Khúc đàn gợi nét xuân hè
Âm thanh dìu dịu, gió nhè nhẹ qua
Sóng đàn, sóng nước giao thoa
Tiết tấu nẩy lộc, nở hoa trên cành...”
   Điều làm tôi ngạc nhiên khi đọc truyện thơ của Nguyễn Hữu Khai ấy là cảnh quê hương của anh vừa tả trên đây lại là cảnh hoàn toàn có thật, thật một trăm phần trăm ở quê anh. Vì vậy cái thật như đếm của cảnh sắc quê hương, của trai gái quê hương anh, được anh tràn vào thơ với một âm vận lục bát sành điệu, do đó làm cho thơ anh như một bức ảnh chụp hết sức sinh động và chứa chan cảm xúc.
   Truyện trong thơ này lấy khoảng thời gian của trước khi giặc Mỹ leo thang gây chiến tranh ở miền Bắc nước ta. Hồng - một cô gái nết na, Phổ – một chàng trai tuấn tú ở cùng quê, cùng trường học thuở  ấu thơ.            Nguyện vọng tha thiết của Phổ là cầm súng đánh Mỹ. Cái tài của tác giả là khi sáng tác ra truyện thơ này là thời gian cách trong truyện thơ khá xa, hơn 20 năm chứ không ít. Ấy vậy mà trong truyện thơ đã tái hiện được nguyên si cảnh trạng. Tình huống không ít và nhất là nhịp điệu sống, nhịp điệu sinh hoạt, làm lụng, cấy hái của thời bấy giờ.
“... Chiến trường thi với ruộng đồng
Bà con náo nức cấy trồng vụ xuân
Cờ bay phấp phới xa gần
Tiếng trống thúc giục bước chân mọi người
Khu này rộn tiếng nói cười
Ấy hội thi cấy người người ra tay
Xem ai thắng cuộc hôm nay
Cấy nhanh, cấy khéo, cấy ngay thẳng hàng...”
   Hay là một pha ghi nhanh bằng thơ khá sống động và tứ thơ lung linh, làm cho người đọc nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của ngày ấy:
“... Phi lao song lối đường mòn
Hắt hiu ánh nắng đã tròn bóng cây
Nhịp cầu nho nhỏ mới xây
Nước mương cuộn chảy tới đây giật lùi
Vo vo nước xoáy sập sùi
Xốn xang Hồng trộn lo, vui trong lòng
Hội thi tay cấy vừa xong
Chị là kiện tướng một trong ba người
Sen cong cuống búp ngậm cười
Phượng non khép kín sắc tươi la đà...”
   Điều đáng nói nhất ở đoạn trên đây còn là cách khai thác tâm trạng đau đáu của Hồng nhớ thương và mong mỏi tin người yêu trong lòng chị. Ngoài ra còn biểu hiện một điềm gở và linh cảm không lành đến với chị. (Sau đó là chị nhận giấy báo tử của chồng chưa cưới).
   Lấy cảnh để nói tình, lấy cảnh để tả tâm trạng, kể cũng có nhiều nhà thơ đã làm. Nhưng điều đáng nói ở đoạn truyện thơ trên là cảnh sắc rất rành rẽ hết sức thật, thật tới mức đọc bằng chữ, mà có cảm giác như xem ảnh, một bức tranh đọc mà thi sĩ Nguyễn Hữu Khai vừa chụp ấy thì quả thật là hiếm thấy, và cũng vì thế mà nó thực sự đặc sắc.
   Toàn bộ truyện thơ dài 1472 câu thơ phong gói một chuyện tình của đôi trai gái, cô gái tên là Hồng. Anh con trai tên là Phổ, rồi một vài người nữa là mẹ Phổ, Trình bạn thân của hai người, một vài bà con làng xóm. Nhân vật đâu có nhiều vậy mà cái tình, cái tâm trạng của các nhân vật ấy nhất là nhân vật chính Hồng - Phổ – Trình ... lại đa dạng và sinh động đến thế.
   Một câu chuyện tình cảm động Phổ và Hồng yêu nhau, trầu cau chạm ngõ, thề non hẹn biển khi Phổ ra trận. Hồng ở lại quê nhà xây dựng HTX. Thế rồi, năm chờ tháng đợi mà vẫn bặt tin Phổ. Rồi tin báo tử của Phổ về làng, nhận được tin người yêu hy sinh ngoài mặt trận Hồng đau đớn vô hạn. Người ta thường nói đến những khúc ngoặt này của tình cảm, thường là người ta chỉ hạ một câu:...”Bút nào tả xiết”. Nhưng với Nguyễn Hữu Khai anh đã tả xiết được, lại tả xiết bằng thơ nữa kia.
   Xin độc giả đọc đoạn thơ sau, lời trong tâm tưởng của Hồng:
“... Thoắt nghe Hồng cắn chặt môi
Khụy chân, chững bước bồi hồi ruột gan
Sập cầu cành gẫy bình tan
Đất trời nghiêng ngả lệ dàn dụa rơi
Anh ơi muôn dặm xa vời
Em chờ anh nỡ dứt lời hỡi anh
Duyên ta chưa tới ngày lành
Mà sao hoa lá đã thành gió sương
Hỡi ơi! Sóng bể dặm trường
Xương tan thịt nát vãi vương nơi nào
Hỡi trời lồng lộng xanh cao!
Duyên tình con trẻ nỡ nào cắt đi
Không thương đem đến làm chi
Mà thương còn nỡ chia ly sao đành?
Hỡi trời! Hỡi biển! Hỡi anh!
Thôi thôi duyên đã tan tành từ đây...!”
   Xin hãy chú ý bốn câu cuối:
“...Không thương đem đến làm chi
Mà thương còn nỡ chia ly sao đành...?”
   Phải nói rằng bằng thơ mà tả được đến vậy là rất hay. Nó hay ra sao? Nó hay ở chỗ đầy chất nữ tính đến cái nỗi đọc đến đây tôi phải reo lên: “Nguyễn Hữu Khai hiểu tâm trạng con gái quá”. Hiểu thấu đến thế nên là thơ mộc mạc chất phác mà lại gói trọn trong một trạng thái khôn xiết đau đớn của một cô gái có người yêu, chồng chưa cưới vừa nghe tin hy sinh ngoài mặt trận. Thế rồi từ tâm trạng của người con gái, đến tâm trạng của người mẹ cô gái, trong cùng cảnh mất mát đã được tác giả chuyển đoạn rất khéo. Một núi đau thương của hai con người một già một trẻ cộng lại dài thông quá ba chục câu thơ, ấy vậy mà thật đầy đủ và bộc lộ được tính cách khá rõ của hai mẹ con. Truyện thơ khi miêu tả nhân vật rất có điều kiện để tả tâm tình, vì văn vần nhất là văn vần lục bát thì càng thuận lợi cho việc nói đến tâm trạng. Chỉ có điều nói thế nào, và cách nào. Ở đây, Nguyễn Hữu Khai đã chọn cách tả của tiểu thuyết, nghĩa là tả thẳng vào mỗi nhân vật, rồi từ đó nghĩ đến người thứ ba ra sao? Ở đây tác giả quả thật đã thành công lắm. Xin hãy nghe tâm trạng đau đớn, thương cô gái của một bà mẹ:
“... Nhìn trẻ nhức nhối lòng già
Dìu con từng bước vào nhà giải khuyên
Con ơi! Bớt nỗi buồn phiền
Cảnh chung cả nước phải riêng đâu mình
Đã là trọn nghĩa trọn tình
Người tuy khuất bóng nghĩa mình còn đây
Giữ hoa khỏi phụ hồn cây
Trên nhà hai cụ cũng đầy đau thương
Nén lòng giữ nét bình thường
Con lên trên ấy liệu đường nói năng
Nới chùng trong lúc dây căng
Lựa lời an ủi san bằng sầu đau
Chung tình trọn hiếu trước sau
Quên mình đi, để vì nhau mới là...”
   Trong 14 câu trên đây, số câu hay chiếm già nửa trong đó có những câu thơ rất hay, nghĩa là tiêu chuẩn hay là phải lấy chuẩn mực của nhà thơ chuyên nghiệp. Vậy mà Nguyễn Hữu Khai, tôi dám chắc đây là tập truyện thơ đầu tay của anh.
Còn những câu rất hay ư? Như câu sau đây:
 
“... Giữ hoa khỏi phụ hồn cây......”
“...... Quên mình đi, để vì nhau mới là...”
   Những câu thơ hay thì tác giả nào cũng có. Còn câu thơ hay mộc mạc chân quê thì như thơ của Nguyễn Hữu Khai này cũng đáng là thơ lắm. Và không phải là nhà thơ nào cũng có đâu.
Và cô gái trong cảnh đau thương đó: Hồng ra sao đây? Vì bên cô còn mẹ của Phổ, cô đau một thì mẹ đau mười. Cô phải khuyên giải mẹ của Phổ như thế nào bây giờ?
Nguyễn Hữu Khai tả thật hay: Hồng đã đến đứng dưới hiên nhà Phổ và chìm đắm trong cảnh đau thương của gia đình bố mẹ, anh em của người yêu. Vậy mà tác giả chỉ cần một câu thơ thôi mà nói được hết cả:
“... Hồng vẫn đứng lặng một bên
Mái nhà chao đảo đè lên đỉnh đầu...”
   Lấy toàn bộ cái mái nhà là nơi đang chất chứa bao thương đau, cao như núi và mái nhà đó đè xuống đầu Hồng thật không gì đầy đủ hơn khi nói về những nỗi đau thương vô hạn nặng nề đó.
Thế thì sau câu trên sẽ còn những gì nữa? Còn chứ, và cũng hay không kém. Ta hãy đọc tiếp để xem tâm trạng Hồng có những gì nữa:
 
“... Mẹ Phổ lại ngất hồi lâu
Hồng nâng mẹ dậy lấy dầu cao xoa
Nén tâm tràn mắt lòa nhòa
Liễu lòng oằn nhức, muối chà, thiết dây
Ôm mẹ biết nói gì đây
Nước mắt luồn cổ nghẹn đầy đau thương...”
   Người ta vẫn thường nói, khi nỗi đau được kìm nén thì “nước mắt nuốt vào trong”. Ở đây tác giả cũng ý ấy nhưng lại có hình ảnh hơn!
“Nước mắt luồn cổ nghẹn đầy đau thương...”
   Cách sáng tạo đã rất có chất lượng, chẳng những thế hồn thơ lại thật là bình dị.
   Cô gái thôn quê nết na đó, nén chịu đau thương, mất mát đó bằng cách đem nghị lực và chí bền vào hành động cụ thể Hồng đã tìm ra được một lẽ sống tích cực, bởi cô hiểu rằng, tuy bây giờ người yêu cô không còn, nhưng không phải vì vậy mà cô chìm đắm mãi trong mất mát lớn đó. Mà cô phải quyết thắng cái nỗi buồn đang dìm cô xuống, mà vượt lên cùng thanh niên trong làng và bà con xây dựng ngày một to đẹp đàng hoàng hơn. Bởi vì, nó cũng chính là ước mơ của người yêu cô. Vậy là, đáp ứng được nguyện vọng của người đã khuất.
Một thời gian sau, nỗi buồn nguôi bớt, có một chàng trai có tình cảm với Hồng nhưng Hồng đã gạt đi Hồng chưa thể dành trọn trái tim cho ai được. Nhưng rồi thời gian lại trôi nhanh, Trình một người bạn của Phổ và của Hồng bị thương từ chiến trận với hoàn cảnh thương tâm mất một mắt, một tay mà khi tỏ tình với Hồng, Hồng ưng thuận. Ngày cưới đã được ấn định thì Phổ về làng, anh bị báo tử nhầm. Phổ chỉ bị bắt làm tù binh, bị giặc tra tấn. Sau này có đợt trao trả của hai bên ta và địch, Phổ được về làng. Về làng, Phổ biết tin Hồng sắp cưới, mà chồng chưa cưới của Hồng chẳng phải ai xa lạ lại là bạn anh - một thương binh.
   Nỗi lòng của Phổ thật là ngổn ngang, nhưng với bản lĩnh và sự thấu đáo của người lính, Phổ đã vượt lên. Ta hãy lắng nghe thổ lộ của tâm can Phổ khi đến bên Hồng và nỗi lòng của hai người:
“... Xót xa dứt ruột khôn cùng
Tủi thương chăn gối lạnh lùng gió đông
Thăm mẹ rồi đến bên Hồng
Tĩnh tâm trò chuyện như không biết gì
Nhẹ như bấc, nặng như chì
Người thì thanh thản, người thì vấn vương
Lánh nhìn lòng lại càng thương
Càng thương! Càng thấy khó đường nói ra...”
   Thế rồi Trình, chồng sắp cưới của Hồng, anh đã hiểu ra. Và đến đây cả ba đang trong mối tơ vò. Trình đã biết vượt lên. Anh có một tâm hồn cao cả đến kỳ lạ. Anh lý giải với Phổ, Hồng và đề nghị hai người trở về với tình đầu của họ. Đến đây thơ của Nguyễn Hữu Khai ngân nga như một hồi chuông dồn lên đổ hồi:
“... Đã là trọn nghĩa trước sau
Duyên vàng nhường lại cho nhau mới là
Cũng nên nghĩ đến người ta
Thủy chung đã trọn dứt ra sao đành
Nát lòng khi thấy gẫy cành
Mà tình vàng ấy vẫn dành cho ai?
Thương yêu bố mẹ hôm mai
Chăm sóc sớm tối hơn hai năm trời
Phớt lờ ong bướm ở đời
Tấm lòng vàng ngọc khắc lời hiếu chung...”
   Lại nói về Phổ về sự kiện người yêu của Phổ ngày xưa và lại là vợ sắp cưới bây giờ mà giọng chí thiết chí tình như thế thì có thể nói Trình, lòng anh tâm hồn anh cao cả biết nhường nào!.
Phải rồi, Trình cũng như Phổ, tận trung, tận hiếu với nước non, đến nỗi tấm thân quý giá đâu có tiếc, xông vào cuộc chiến đấu để cùng đồng đội giành lấy chiến công. Những con người đẹp đẽ như vậy họ hẳn phải  có một tâm hồn đẹp. Và xin hãy đọc tiếp lời Trình:
“... Lánh người tài đức khôn cùng
Với tôi tàn tật lại chung duyên tình
Ơn người thương mến đến mình
Nay lòng xin nguyện trắng tinh bạn đời...”
   Chao ôi! Một tâm hồn cao thượng là vậy mà lại nói giản dị là vậy. Tình bạn và tình yêu hòa trộn, để rồi nguyện với lòng mình để tình bạn lên trên, bởi đó là tình của những người cùng chiến hào mà.
Xin cứ hãy đọc tiếp lời Trình:
“... Mong rằng Phổ hãy nhận lời
Để cho trọn vẹn tình đời chúng ta
Như thế thì mới gọi là
Tình sâu nghĩa nặng đậm đà cả hai
Gian nan từng trải đường dài
Gan vàng dạ sắt sao phai duyên màu...?”
   Người ta nói, đã là núi phải có đỉnh, đã là một tâm hồn thanh cao thì trên đỉnh của thanh cao đó là hồi chuông của lời cao cả, lời nghĩa tình.
Phải rồi đã là mối quan hệ của tình bạn và tình yêu với đúng cái nghĩa chân xác và chính trực thì nó giản dị là vậy.
Chúng ta đọc tiếp lời Phổ:
“... Đang tươi đổi sắc thành sầu
Phổ nghèn nghẹn giọng lựa câu đáp lời:
“... Trình ơi! Lòng dạ biển trời
Chất đầy thuyền nghĩa chở lời ơn anh...”
   Chúng ta thấy xúc cảm của Phổ cũng thật là chân thành và xúc cảm ở đây Nguyễn Hữu Khai đã biết dừng bút một cách chính xác rằng chỉ có thể nói được đến thế mới là Phổ và hay nhất là câu:
“... Đang tươi đổi sắc thành sầu...”
   Ta hãy chú ý đến cách miêu tả chân dung Phổ của tác giả. Ở đây tác giả thật am hiểu tâm lý của những con người chân chính. Trước cái lớn lao của bạn, Phổ ngập như bơi giữa biển sâu mênh mông, đã trong cảnh huống ấy thì dầu can đảm đến đâu cũng ngợp và đã ngợp thì sao có thể “Đang tươi...” mãi được. Và sự biến sắc mặt ấy cũng chính là sự biểu hiện của môt con người có tâm hồn cao thượng, biết chừng mực. Đó là trong sâu xa Phổ không thể không chấp nhận mối quan hệ của Trình và Hồng, vì anh đã “hy sinh” rồi kia mà. Bây giờ anh trở về khi biết Hồng đã có nơi chốn mà nơi chốn lại chính là bạn anh, Phổ đã phần lớn tự lấy lại trong tâm hồn mình sự bình yên và cũng sẽ mừng cho đôi lứa đó rồi. Bởi nên sự thay đổi của Trình với Hồng và Phổ, với Phổ nó quá lớn lao, quá cao và quá đẹp.
Ta hãy để ý đến tâm trạng Hồng:
“... Rằng: Bên Trình một năm thừa
Tháng ngày sóng gió nắng mưa có Trình
Thương người quá nỗi thương mình
Rút tơ, luộc nhộng nấu tình xót xa...”
   Quê hương Hà Tây có nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa.
   Sự đau xót, dằn vặt đấu tranh tư tưởng của Hồng đã được tác giả khắc họa bằng hình ảnh ”ươm tơ kéo kén”: (Muốn lấy tơ từ kén tằm người ta phải cho kén vào nước sôi, mà trong kén có con nhộng. Nhộng phải chìm nổi trong nước sôi lửa bỏng). Đây là lúc Hồng nghĩ tới sự nối lại tơ duyên cùng Phổ thì khác nào sợi dây tơ tình ấy được rút ra từ kén và sự đau đớn khổ sở của Trình khác nào như con nhộng bị luộc trong nước sôi. Và như thế thì lòng dạ nào Hồng có thể cam chịu vì vậy nên:
“... Lòng nào thêu gấm dệt hoa
Muốn phơi nắng gió phôi pha một đời!...”
   Chị đã định giãi tình đời phơi trong nắng gió, chả thà chấp nhận mất tất cả... và thế rồi chị đã chết ngất trước hai bạn đời.
“Tâm can vò xé tơi bời
Mắt mờ giọng nghẹn, hồn rời khỏi hoa
Thương ơi! Lặng ngất giữa nhà
Ôm chân, ôm cổ xót xa hai lòng...”
   Đau xót dâng trào trong lòng Trình và Phổ nhưng họ chỉ dám lao vào “... Người ôm chân, kẻ ôm cổ” đúng là nghĩa cử của những chàng thanh niên thời ấy.
   Và dưới đây nữa. Nếu trong tập truyện thơ này có đoạn nào hay nhất được lấy ra trong vô số đoạn hay thì đoạn dưới đây tôi cho là hay đến ngất lòng người đọc:
“...Tỉnh ra, lệ nóng tuôn dòng
Thề xưa, xối xả những mong giữ lời
Ân tình đành trải đôi nơi
Tình đầu nối lại một đời một dây
Bình vơi sẻ nước ắp đầy
Cơm sôi giảm lửa căng dây nới chùng
Các anh đã một ý chung
Tim em một nhịp hòa cùng các anh
Hoa xưa lại được nhập cành
Ơn người rộng lượng ghép lành gương tan...”
   Trong tiểu thuyết và cả trong truyện thơ, tâm trạng con gái, phụ nữ bao giờ cũng rất khó miêu tả đối với người viết. Vậy mà ở đây tác giả đã không những tả đúng trạng huống của Hồng, một cô gái đang đứng trước ngã ba đường tình. Cả hai đều đã có tình yêu và đã có tình thương. Thật là rắc rối tơ lòng mà còn tả rất đúng tâm lý của một cô gái quê thuần hậu. Khôn ngoan, biết tiến thoái đúng mức và luôn biết xử lý một cách hợp lý và chẳng hề chìm đắm trong bi thương khốc liệt.
   Con người cao cả thì cả lý và tình đều rạng rỡ. Những con người đẹp, cao thượng khôn khéo và dũng cảm như vậy nay trong tình yêu thì làm sao mà lại không thể đánh thắng kẻ thù lớn là đế quốc Mỹ cho được.
Trong chủ đề là tình yêu và cách cư xử với tình yêu, Nguyễn Hữu Khai đã làm một quy chiếu với phổ quát rộng lớn đó là: Đất nước mình ngày ấy đã sản sinh những thế hệ con trai, con gái tuyệt vời biết bao.
Nguyễn Hữu Khai quả là đã thành công trong tập truyện thơ này. Điều quan trọng hơn nữa là khi đang đọc tập truyện thơ này của Khai ta lại thấy như thấp thoáng giữa những dòng thơ của Khai hiện lên những tập thơ khác nữa. Chúng ta mong được đón đọc tiếp những tập thơ mới của anh.
Hà Nội, 10-1999
 



VIII.   CẢM NHẬN "TÌNH QUÊ” (TRUYỆN THƠ CỦA NGUYỄN HỮU KHAI)   -   Thu An

   Sâu thẳm và trong trẻo như mạch nước ngầm giữa lòng đất, “Tình Quê” cứ từ từ thấm sâu vào lòng người đọc. Với tôi cũng vậy. Thoạt tiên, tôi không có ấn tượng mấy về cuốn truyện thơ này, một phần vì thơ bây giờ đa dạng quá, phong phú quá nên khó đọc, và cũng không dễ tìm thấy sự đồng cảm, một phần do cảm giác là nó lỗi thời. Tôi cứ đọc như một cách giải trí lơ đãng. Thế rồi bất chợt nhận ra có cái gì đó cứ âm thầm chảy theo từng dòng chữ, từng câu thơ. Tình quê đấy, hồn người đấy. Tôi lại bắt đầu từ trang đầu tiên, từ những câu thơ đầu tiên:
Đa già rủ mát chân đê
Che làng nho nhỏ bên lề núi xanh
Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún, méo vành trăng thu
   Một không gian mở, một bối cảnh thật gần gũi để rồi trong đó xảy ra bao nhiêu chuyện tình cảm động. Không gian ấy, bối cảnh ấy chưa xa hiện tại là mấy nhưng đọc lên cứ như vương vấn chút hoài cổ. Một làng quê thật đẹp, thật yên bình với bóng đa già, bờ đê, dãy núi, với dòng sông hiền hòa trong vắt in vành trăng thu. Một làng quê như ta từng biết qua ca dao, dân ca, qua những mùa lễ hội. Cứ tưởng nơi đó chỉ có cuộc sống thanh bình, êm ả, có trai thanh, gái lịch nhưng cũng rất giỏi giang, có tiếng sáo mục đồng mỗi khi chiều xuống, có những bậc ông bà, cha mẹ cứ tối tối lại kể chuyện cho con cháu nghe để răn dạy bao đạo lý ở đời. Thế nhưng tất cả bỗng chốc bị phá vỡ bởi bom đạn, khói lửa của chiến tranh:
Nhớ ngày bom ngắt lời ru
Nát hoa đục nước bóng thù vởn mây
Chim thơ, lửa xối tan bầy
Sập cầu, nát chợ, gẫy cây, đổ trường
   “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” bản chất mỗi con người sẽ được bộc lộ rõ nhất trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Và ở đây, ở làng quê của những con người thuần hậu, chân chất, cái tình được biểu hiện chân thành, rõ rệt hơn bao giờ hết. Đó là tình yêu trong sáng, thủy chung của Hồng- Phổ, tình cảm chân thành, cao thượng của Trình - Hồng, mối tình hiểu biết trân trọng nhau của anh giáo, rồi tình làng nghĩa xóm... Tất cả nằm trong một mối tình thiêng liêng hơn, cao cả hơn tình yêu quê hương đất nước. Người ta biết sống vì nhau nên biết hy sinh cho nhau. “Tình Quê” đã khái quát được khá đậm nét bối cảnh của những năm từ 1968 đến 1972. Giai đoạn chiến tranh phủ kín cả nước. Thời chiến tranh, bao nhiêu làng quê miền Bắc đều trải qua những năm tháng như vậy. Trai làng đua nhau tòng quân, tìm mọi cách để được ra chiến trường quyết tâm giải phóng miền Nam, con gái ở làng thi đua “ba đảm đang”, làm tốt công tác hậu phương, quyết tâm giữ gìn và xây dựng chủ nghĩa xã hội để yên lòng người ra tiền tuyến rồi những mất mát hy sinh... Những câu chuyện của một thời ly loạn đi đâu cũng gặp, nhìn đâu cũng thấy. Nhưng dồn nén tâm tư, tình cảm của mình, ấp ủ bao nhiêu năm trời để viết thành truyện thơ thì không mấy ai. Và hình như cũng chẳng ai nghĩ phải làm điều đó trong thời buổi này. Anh không phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Anh là một nhà kinh doanh thành đạt, một Lương y, Võ sư nổi tiếng, từng làm báo viết văn nhưng in thơ mà lại là truyện thơ lục bát thì quả thật anh có... dũng khí. Có lẽ do anh không bị nằm trong vòng chi phối bởi bao nhiêu ràng buộc, đè nén, soi mói của cuộc sống, anh không ngại để người khác bình phẩm, đánh giá như anh từng viết trong “Tình Quê”:
...“Khen chê xin nhận cũng như cho vàng”
   Và cũng không tuân theo một thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ nào, anh cứ viết theo lối kể chuyện dân dã, bình dị, viết theo mạch cảm xúc của mình. “Tình Quê” vì thế không phải là một áng thơ hay theo “mốt” thẩm mỹ đương thời nhưng xuyên suốt cả tập thơ là sự hồn nhiên trong trẻo, là tình yêu làng xóm quê hương đậm đà tha thiết. Thơ văn bây giờ mỗi ngày mỗi mới mẻ, cả hình thức biểu hiện lẫn nội dung. Có lẽ do hoàn cảnh xã hội tác động, người ta không nói nhiều đến cái chung nữa mà thường đi vào mổ xẻ những cái riêng trong mỗi con người với đủ các cung bậc, âm sắc và cũng thật khó phân định tình nào là chân, là giả, đôi lúc cứ như nhìn nghệ sĩ xiếc biểu diễn trò tung hứng. Còn anh? Anh tẩn mẩn đi tìm những gì cha ông xưa từng có, những gì thế hệ bây giờ có lúc lãng quên. Thơ anh đôi khi nghe giống một câu ca dao, một câu hò đối đáp ở làng quê, có lúc lại nghe như những lời thủ thỉ, tâm tình nhưng không hề gượng ép để thành thơ, như tự thân nó đã là thơ. Chính sự mộc mạc dung dị đó gợi lên trong lòng người đọc một thứ tình cảm nhẹ nhàng nhưng đằm thắm, sâu lắng:
... Đã là trọn nghĩa trọn tình
Người tuy khuất bóng, nghĩa mình còn đây
Giữ hoa khỏi phụ tình cây
Trên nhà hai cụ cũng đầy đau thương
Nén lòng giữ nét bình thường
Con lên trên đó liệu đường nói năng...
   Không chỉ có vậy. Có những câu thơ hay được phát hiện bằng một trực giác nhanh nhạy và tinh tế, sự quan sát mới mẻ, hồn nhiên và bằng tấm lòng của một người thiết tha yêu quê hương đến từng gốc cây ngọn cỏ:
... Mây trăng đùa dưới giếng đình
Gió hiu hiu thổi rập rình ngọn tre
Góc vườn đom đóm lập lòe
Đu trên mặt lá, lén nghe chuyện người...
*
*     *

... Nắng trưa nhuộm trắng áo chàm
Mặt ruộng bùn nhuyễn muốn giam chân người
*
*     *

... Trời xuân dào dạt mây trôi
Cành tơ đón nắng đâm chồi nở hoa
Sóng hồ phơi nắng chiều tà
Liễu xòa đùa nước, la đà cành xanh...
   Cách anh ví von, ẩn dụ, sử dụng thành ngữ, tục ngữ đẹp và nhuần nhuyễn như là dân ca:
... Núi cao, núi thấp họ trông
Phụ ta, ta sẽ phản công bất ngờ
... Bao ngày đắp đập, be bờ
Dễ gì thiên hạ đem lờ đến đơm
*
*     *

Lòng nào thêu gấm dệt hoa
Muốn phơi nắng gió phôi pha một đời
*
*     *

... Bình vơi sẻ nước ắp đầy
Cơm sôi giảm lửa, căng dây nới chùng
   Tôi biết anh không có ý định xây dựng một hình tượng nhân vật điển hình nhưng với nhân vật Hồng, gần như anh đã làm được điều đó. Hay đúng hơn là anh đã tạo một mẫu người được nâng lên đến mức hoàn thiện. Hồng đẹp người, đẹp nết, thông minh đảm đương việc nước, việc nhà, thủy chung trong sáng trong tình yêu, chân thành trong tình bạn; cả cái cách Hồng từ chối tình yêu và thuyết phục Tú góp sức chung lòng xây dựng quê hương cũng đáng yêu làm sao. Hồng đại diện cho lớp người phụ nữ đẹp của nông thôn miền Bắc thời đó.
   Thơ của Nguyễn Hữu Khai là vậy, có lúc chân chất, thật thà như một anh nông dân, có khi tài hoa như một người làm thơ thứ thiệt. Tôi cũng không hiểu tại sao sau bao nhiêu dâu bể cuộc đời và trong một xã hội luôn biến động, thay đổi, kể cả cách nhìn về quá khứ, anh vẫn luôn giữ được cho mình cái mạch ngầm trong trẻo của “Tình Quê” để đúc kết thành thơ.
TP Hồ Chí Minh, 12/3/1999
 



IX.  THƠ ANH NẶNG MỘT CHỮ TÌNH (NHÂN ĐỌC TRUYỆN THƠ “Tình Quê” CỦA NGUYỄN HỮU KHAI – NXB VHTT-1998)   -   Hà Quốc Trị

    Có nhiều anh chị hỏi tôi cảm xúc khi đọc “Tình Quê” của Nguyễn Hữu Khai. Tôi thưa ngay: Những gì cần nói, những gì muốn nói thì trong “Lời nói đầu” của tập thơ, nhà thơ Vũ Duy Thông đã nói gần như đầy đủ. Tôi đâu có dám làm cái việc của anh thợ vụng múa rìu qua mắt thợ giỏi, có chăng tôi chỉ xin nói lên những tính cách của tác giả mà tôi vốn là chỗ thân tình.
   Tôi quen biết Khai đã gần hai chục năm nay. Đã từng có dịp làm chung, ăn chung và cũng đã từng có dịp chứng kiến những bước thăng trầm của con người đa tài, đa tình dạn dày sương gió từ khi anh bước chân vào Sài Gòn. Có những phen tôi tưởng anh không thể vượt qua những trái ngang nghiệt ngã của cuộc đời riêng, chung. Ấy vậy mà chẳng hiểu sức mạnh nào đã giúp anh vượt qua được “phong ba bão táp” để đứng dậy, để vươn lên, để đi tới. Nhìn bên ngoài lúc nào cũng thấy Nguyễn Hữu Khai ung dung thanh thản và cứ tưởng rằng: Giờ đây mọi trí lực của anh đã dồn vào hết cho công việc kinh doanh đầy gian nan, gai góc để đảm bảo cuộc sống cho mấy trăm con người đã từng theo anh sản xuất thuốc Đông Nam dược. Vậy mà anh vẫn tận tụy khám chữa bệnh cứu người, anh vẫn dạy võ thuật, anh vẫn viết báo, viết văn và còn làm thơ nữa! Thơ anh viết khá nhiều, nhiều thể loại. Nhưng có lẽ tại thời điểm này tập truyện thơ “Tình Quê” là dài nhất viết theo thể lục bát.
   Vì là thơ lục bát dễ đọc, dễ nhớ nên tôi đọc một mạch từ trang đầu đến trang cuối. Đọc thơ Khai tôi thấy hay, cái hay không chỉ ở câu chữ vì Khai đâu có phải là một nhà thơ chuyên nghiệp. Anh là Thầy thuốc, anh là Võ sư, anh là nhà kinh doanh nhạy bén và rất năng động. Thơ của Khai là cái tình của Khai, đối với bạn hữu cùng trang lứa, với bà con xóm làng, với kỷ niệm của nửa đời người. Anh mở ra, anh trải ra, giãi bày ra để chúng ta cùng chia sẻ và cùng sống lại một thời hào hùng với những chàng trai, những cô gái trên mọi miền quê đất Bắc của ba bốn chục năm về trước.
   Đọc thơ Khai, ta như cảm nhận được cái thần khí tiềm ẩn sau câu chữ, lúc thì mộc mạc dung dị, lúc thì uyên bác cao siêu. Lời lẽ, ý tứ luôn toát ra những hình ảnh tinh tế và sinh động. Thơ Khai là lòng tự tin, lạc quan, yêu cuộc sống mặc dù cuộc sống còn đang bề bộn bao nỗi lo toan vất vả. Phải chăng Khai muốn gửi gắm tất cả cái tình của mình vào thơ: Một tình yêu chân chất, đằm thắm mênh mông, một tình yêu giản dị chân thành với quê hương, với con người. Phải chi giờ đây còn có được nhiều người còn giữ cái tình giản dị đậm đà mà thiêng liêng ấy nhỉ! Nhất là lúc người ta có chức trọng quyền cao và đang ở trong một cơ chế còn chộn rộn này?
   ... Gấp cuốn “Tình Quê” lại rồi, tôi thẫn thờ hồi tưởng và ước gì mình được trở về vùng quê êm đềm, xinh đẹp như tranh, như thơ “Tình Quê”. Nơi ấy có một con người hiền lành mến khách, nặng nghĩa nặng tình, nơi ấy có nương dâu bãi mía xanh ngan ngát uốn lượn theo dòng sông Đáy mát ngọt phù sa. Nơi ấy đã một thời tôi được bà con cưu mang khi cơ quan về đó sơ tán. Và nơi ấy cũng là nơi chôn nhau cắt rốn, là quê hương trăm nhớ ngàn thương của con người đa tài, đa tình Nguyễn Hữu Khai. Phải chăng cái hay của “Tình Quê” là vì thế!
24.03.99
 



X.  CẢM XÚC VỀ “TÌNH QUÊ” CỦA NGUYỄN HỮU KHAI   -   Nguyễn Hữu Túc
 
Đa già rủ mát chân đê
Che làng nho nhỏ bên lề núi xanh
Êm đềm sông Đáy lượn quanh
Dập dìu thuyền nhún méo vành trăng thu...
   Bốn câu thơ đầu trong “Tình Quê” của Nguyễn Hữu Khai đã thật sự khai nguồn cảm xúc cho những ai đã đọc “Tình Quê” mà không thể không đọc hết.
   Là một học sinh lớp 12 với bề bộn những Toán, Lý, Hoá,... chuẩn bị cho kỳ thi đại học sắp tới, song dường như nó là chuyện “ngoài lề” mỗi khi trên tay tôi có “Tình Quê”. Tôi xin miễn được bàn đến phong cách nghệ thuật cũng như sự lãng mạn của một chất thơ nào đó. Ở đây bởi với Nguyễn Hữu Khai tất cả những cái đó chỉ là sự tinh tế khi nhìn lại quá khứ về một vùng quê bình dị như bao vùng quê khác nơi tác giả sinh ra và lớn lên. Sự tinh tế đó cùng với một sự sáng tạo nghệ thuật mà tác giả ghép vần thành một thể loại gọi là “Truyện thơ”.
   Từ tiếng hát đưa nôi đến lời ru của mẹ, từ những câu ca dao hò vè, đến những điệu hát ví dân gian. Tất cả là vốn sống, là những dòng cảm xúc tâm linh, để các thi sỹ bước vào làm thơ. Nguyễn Hữu Khai cũng vậy, ông viết “Truyện thơ” bằng sự tĩnh tâm, hồi tưởng của mình về quá khứ, cái mà gọi là “sự sáng tạo nghệ thuật” có lẽ cũng bắt nguồn từ tiếng hát đưa nôi đến lời ru của mẹ ấy.
Với những Trình, Phổ, Hồng, Long, Nga... tác giả đã thực sự mang đến trước mắt người đọc một bức tranh tuyệt đẹp về “Tình Quê”. Họ là:
“Những con yêu của quê hương,
Náo nức tình nguyện lên đường tòng quân”.
   Họ sốt sắng tình nguyện, thậm chí làm mọi điều để có thể được đi bộ đội bất chấp những gian nguy phơi bày trước mắt:
 ... Nhớ ngày bom ngắt lời ru
Nát hoa, đục nước bóng thù vởn mây
Chim thơ lửa xối tan bầy
Sập cầu, nát chợ, gẫy cây, đổ trường
   Nhưng có lẽ đấy chính là điều hối thúc họ lên đường và những cặp tình duyên đã quyến luyến nhưng vẫn vui vẻ và sẵn sàng chia tay nhau để lên đường tòng quân:
... Dập dìu cánh phượng cổng nhà
Vẫy tiễn Hồng, Phổ bước ra ngoài đường
Đầm sen ngào ngạt tỏa hương
Khăn, đàn tha thướt dọc mương tới hồ...
Gói xôi thơm nức đỗ xanh
Gói tôm rang, gói dưa hành trao tay...”
   Đó chỉ là một bức tranh bình dị trong vô vàn bức tranh bình dị mà“Tình Quê” nói đến.
   Những đôi nam nữ mà ở đây đại diện là Hồng, Phổ lưu luyến chia tay để Phổ lên đường trong một không khí náo nức với đầy những hương sen, cung đàn. Họ lên đường với một quyết tâm cao, mong mang lại sự bình yên cho Tổ Quốc mà an tâm rằng họ có một hậu phương vững chắc để rồi Phổ đã vì nước quên thân, hy sinh anh dũng...
   Đó là những điều có thể nói rằng rất bình thường của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến. Song với “Tình Quê” sự hy sinh mất mát, tinh thần vì nước quên thân lại sừng sững như núi cao và bao la như biển cả, đó là lớp người đại diện cho vô số những lớp người đã hy sinh ở bất cứ nơi đâu, sự hy sinh của họ cũng khiến người thân đau buồn vô hạn. Ở đây ta thấy được một Nguyễn Hữu Khai, người mà đã biết hòa đồng, biết biến sự đau thương của người khác như của chính mình để rồi đưa nó vào những câu thơ chân chất ấy.
..... “Con ơi! Bớt nỗi buồn phiền
Cảnh chung cả nước phải riêng đâu mình”
*
*     *

..... “Ông rằng: Ai chẳng xót thương!
Chiến tranh mất mát lẽ thường xảy ra
Xót xa đâu phải riêng ta
Đau thương, thù giặc trăm nhà sục sôi”
   Một nhà thơ thực thụ họ biết nhìn đời hay nói đúng hơn là họ thích nhìn đời theo cách riêng của họ, khác người, lãng mạn hay đại loại như thế. Nhưng với Nguyễn Hữu Khai thì khác, ông nhìn những điều vốn chất phát nhất đời thường để biến nó thành thơ và tạo thành phong cách thơ riêng cho mình.
 ... “Thường khi đánh bại quân thù
Khểnh lưng trên chiếc võng dù ngắm trăng
Gió reo vui nhủ thầm rằng
Thù chung đã trả ở đằng sau ta
Vui cảnh lại nhớ quê nhà
Nhìn núi lại nhớ mẹ già xa xôi...”
   Đó chính là sự tinh tế của Nguyễn Hữu Khai bởi nhà thơ đã biết nhìn nhận sự bình dị ấy của người lính kia dưới một con mắt đầy san sẻ mà biết đâu nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên chính là tác giả (?).
Ở quê nhà, một cảnh nông thôn đầy sự bình dị với những:
“... Bóng rơm ấp ủ đàn gà
Bếp tranh nhả khói la đà ngọn tre...”
   Đã được nhà thơ lột tả hết sức tinh tế bởi nó là một cảnh tượng hết sức quen thuộc, dân dã ở chốn thôn quê mà người bình thường thoáng nhìn qua sẽ không thấy được cái hay, cái đẹp, cái thơ mộng của nó.
Cái hay, cái đẹp trong thơ Nguyễn Hữu Khai là ở chỗ đó. Ông biết viết những gì mọi người vốn đã biết nhiều về nó song không có dịp hoặc không để tâm, để ý đến nó.
    Tôi chỉ dám viết đến đây bởi nếu viết tiếp nữa tôi sợ rằng mình không có đủ trình độ để nói về tác giả “Tình Quê” ấy. Ở Nguyễn Hữu Khai vẫn còn nhiều điều chúng ta cần khám phá và sẽ rất thú vị, đấy là tôi còn chưa nói đến tác giả “Tình Quê” rằng ông đã từng và hiện nay đang là một Lương y, một Võ sư, Tổng giám đốc một Công ty Đông nam dược lớn...
Cảm ơn nhà thơ, cảm ơn “Tình Quê”, cảm ơn nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng nên Nguyễn Hữu Khai, người mà với “Tình Quê” của mình đã khiến người già có dịp để “ôn cố tri tân” về một vùng quê thời ấy, một thời lẫy lừng của đất nước. Còn cho lớp trẻ ngày nay biết thế nào là tình yêu thương gắn bó với quê hương
Hà Đông, 20.03.99
 

 

Giới thiệu tác giả
QUA MỘT TRUYỆN KÝ CỦA
NHÀ VĂN VÕ KHẮC NGHIÊM
(ĐĂNG TRÊN BÁO VĂN NGHỆ SỐ 30 (2010) THÁNG 7 NĂM 1998)



CHUYỆN MỘT LƯƠNG Y
                                                                                            
Nhà văn Võ Khắc Nghiêm
 
   Tôi đã từng nghe danh tiếng các loại thuốc của Bảo Long. Một anh thợ mỏ bạn tôi ở Cẩm Phả bị rò tủy, sưng khớp lâu năm, nhờ dùng thuốc Hỏa Long của Công ty Bảo Long đã khỏi bệnh... Tôi nghĩ vị Lương y phụ trách một công ty lớn này phải là người có gốc gia truyền về thuốc và từng trải. Trong trí tưởng tượng của tôi đó là một ông già quắc thước, râu tóc bạc trắng... Nhưng không, Lương y – Võ sư Nguyễn Hữu Khai còn rất trẻ, dáng vẻ hoạt bát, nhanh nhẹn và lịch thiệp. Dường như anh rất thân thiết với các phóng viên nhà báo. Được ông Lê Thấu - Tổng biên tập báo Sức khỏe và Đời sống giới thiệu, Lương y Khai nắm chặt tay tôi khá lâu: “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình! Gặp được nhau là duyên kỳ ngộ rồi đó!”. Giọng nói của anh với cặp mắt cởi mở khiến tôi ngờ ngợ. Hình như tôi đã gặp con người này, đã nhìn thấy cặp mắt này, nghe giọng nói này ở đâu đó. Tôi cố lục tìm bộ nhớ của mình khá lâu. Mãi đến khi Nguyễn Hữu Khai nói về thời điểm anh vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng trên một chuyến xe tốc hành bị cướp ở đèo Hải Vân tôi mới ồ lên và nhớ ra: Chính tôi cũng có mặt trên chuyến xe đó. Tôi ngồi cạnh một người phụ nữ buôn chuyến có nước da mai mái và cặp mắt lờ đờ sau nhiều ngày thiếu ngủ. Chị ta ôm khư khư chiếc túi du lịch căng phồng và ngủ gà ngủ gật suốt chặng đường dài đến đèo Hải Vân mới choàng tỉnh dậy bởi sự kéo đẩy rất mạnh của một gã đàn ông mặt rỗ với con dao sáng loáng trong tay. Có lẽ hắn và đồng bọn đã bám theo chị ta từ lúc chị nhận tiền ở Hà Nội và chỉ chờ lúc trời nhá nhem, chiếc xe vượt quãng đèo vắng vẻ hắn mới giật phăng túi tiền, phóng ra cửa xe. Ở đó có một tên trọc đầu đã mở sẵn cửa xe, chúng theo nhau lăn xuống đường. Từ trên xe một chàng thanh niên cao gầy, mặc áo xanh, đã lao theo chúng. Chiếc xe dừng lại nhưng không ai dám xuống giúp chàng thanh niên kia trong lúc vật lộn với tên cướp. Tôi cố lén ra phía cửa, đúng lúc anh chàng áo xanh bằng một thế võ bí hiểm đá bay con dao trên tay tên cướp và quật hắn đổ sập như người ta chặt một cây chuối. Anh phụ xe đã kịp lao đến trói tay tên mặt rỗ bằng một sợi giây dù. Tên cướp còn lại định ôm bọc tiền chạy suốt khe suối. Nhưng chàng áo xanh đã phóng như bay về phía đó và quật ngã hắn dễ dàng. Khi hai tên cướp bị trói chặt vào chân ghế, chiếc xe lại chuyển bánh. Anh chàng áo xanh xách túi tiền: “Của ai đây nhỉ?”. Mọi người dồn mắt về chị buôn chuyến, nhưng có thiếng thét lên: “Chị ta bị ngất xỉu rồi. Dừng xe lại!”. Chàng áo xanh xách túi tiền đến chỗ chúng tôi và nói như ra lệnh với bác tài: “Cứ chạy nhanh về Đà Nẵng hẵng hay!”. Anh ta đỡ chị buôn chuyến ngả lưng vào thành xe, bắt mạch: “Chị này yếu tim, sợ quá bị ngất đấy thôi!”. Anh ta rút trong túi áo một chai dầu nhỏ xoa vào gan bàn chân và bấm huyệt... Vài phút sau chị buôn chuyến đã tỉnh lại... Công an thành phố Đà Nẵng yêu cầu người bắt cướp và cả chị buôn chuyến ở lại làm biên bản, sau đó họ sẽ lo xe cho đi Sài Gòn. Thế là tôi không thể biết thêm gì về anh chàng áo xanh dũng cảm và tốt bụng đó. Tôi nghĩ đó có thể là một chiến sĩ đặc công, một chiến sĩ săn bắt cướp, không ngờ đó lại là một Lương y đang “thất nghiệp”.
   Trái đất tròn, chúng ta lại gặp nhau sau hơn 15 năm Võ sư Khai cười rất vui – Anh biết không, hồi đó tôi không có nổi một trăm ngàn trong túi, nhưng khi chị ấy cho tôi một cục tiền to, chẳng biết là bao nhiêu nữa, tôi không dám nhận. Đó là người đàn bà có tình, có nghĩa, sau này cứ muốn gả cô em gái cho tôi và đã giúp tôi rất nhiều trong việc mở rộng các quan hệ làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Thế còn tên cướp mặt rỗ? Hắn có tìm anh trả thù không? – Tôi hỏi với sự phiêu lưu của những phim găng – tơ Hoa Kỳ.
- Ồ không! Nhưng tình cờ tôi lại chạm trán với cả băng của hắn khi chúng tranh giành thị trường bán thuốc ở bến xe Miền Tây với anh em chúng tôi. Cuối cùng thì chính ông thầy của hắn – một Võ sư có hạng đã kết nghĩa anh em với tôi, nói rằng hắn thực sự muốn hoàn lương. Tôi đã giúp hắn có việc làm. Bây giờ hắn đang là bảo vệ của một khách sạn lớn. Dịp nào anh vào Sài Gòn, tôi sẽ dẫn anh gặp, tha hồ mà viết về những cuộc đời thú vị của cánh giang hồ đã biết hướng thiện.
   Nguyễn Hữu Khai sinh năm Nhâm Thìn trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Kinh Đào, xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Năm 18 tuổi anh vào bộ đội, chiến đấu ở chiến trường B5. Năm 1975 về học Đại học kiến trúc. Nhưng thấy quê hương nghèo đói, bệnh tật anh quyết chí đi học nghề làm thuốc. Vốn thông minh, chịu khó và cầu thị, Nguyễn Hữu Khai đã được những thầy lang, những Võ sư giỏi ở trong nước tận tình chỉ bảo. Nghe lời khuyên của một Lương y nổi tiếng, anh đã phiêu bạt sang nước bạn Trung Hoa sống trong những làng thuốc, làng võ nổi tiếng của người Tàu. Anh tự học tiếng Trung Quốc, dành giụm tiền mua sách thuốc và nhanh chóng nắm bắt được những nguyên lý cơ bản của phương pháp chữa bệnh Đông y, với nền triết học Đông phương mở ra cho Nguyễn Hữu Khai những mơ ước lớn. Trở về nước trong lúc chiến tranh biên giới xảy ra. Anh đã bị bắt với những nghi ngờ và trở thành một tù nhân bị giam chung với những tên đầu gấu nguy hiểm. Chính những ngày không vui này đã giúp anh nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống và phải biết hoàn thiện mình thế nào. Anh đã trừng trị những tên đầu gấu và chứng minh được với các cán bộ chiến sĩ công an rằng mình vô tội. Anh làm phiên dịch tiếng Hoa, vận động những tên tội phạm nhận rõ được cái thiện, cái ác và anh đã được trở lại tự do với đầy đủ tem, phiếu và cả công văn cho địa phương với những lời lẽ tốt đẹp. Lòng tràn ngập niềm vui sau những năm tháng xa quê, Nguyễn Hữu Khai hăng hái bắt tay vào công việc chữa bệnh cho nhân dân trong xã. Ngôi nhà của anh càng ngày càng trở nên chật chội bởi người đến chữa bệnh quá đông. Tiếng lành đồn xa, cả những người miền núi cũng kéo đến chữa bệnh. Có lúc phải nuôi ăn bệnh nhân hàng tháng mà chỉ được trả ơn bằng một bao tải măng tre. Nghèo nhưng mà vui vì các bệnh nhân đã khỏi, lại không phải đi xa tốn tiền. Rừng quê anh khá nhiều thuốc quý, anh em, bạn bè cùng giúp nên không đến nỗi vất vả lắm. Nhưng... đời vẫn thường thế... y tế xã, y tế huyện đâu có muốn anh nổi tiếng? Phải có bằng bác sĩ, y sĩ mới được cấp giấy hành nghề. Vậy là cái “bệnh viện” mi ni của anh phải đóng cửa. Thất nghiệp lại bị đối xử giống như những kẻ có tiền án tiền sự khác. Anh đã quyết định theo đoàn kinh tế mới vào Nam lập nghiệp.
    Sau những ngày mượn danh thiên hạ để hành nghề, để tranh giành thị trường, Nguyễn Hữu Khai đã theo học một khóa đào tạo lương y. Chưa học xong anh đã được mời tham gia giảng dạy tại trường trung cấp Y Dược học dân tộc. Thế rồi vận may đã đến với anh, nhờ chữa bệnh cho nhiều cán bộ chiến sĩ công an, anh đã được công an thành phố Hồ Chí Minh tin cậy giao cơ sở sản xuất thuốc cho anh quản lý. Chính anh là người đã lập phương án về việc sử dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất thuốc Đông Nam dược, thay vì cải tạo, nâng cấp sản xuất Tây dược rất khó cạnh tranh với các hãng tân dược lớn của nước ngoài đang bắt đầu mở rộng ở Việt Nam. Công ty Đông Nam dược Bảo Long đã ra đời vào đúng thời kỳ đất nước đổi mới.
- Thế bây giờ các anh đã sản xuất bao nhiêu loại Long rồi? – Tôi hỏi Lương y Khai.
- Hai mươi mốt và sẽ là ba mươi loại thuốc trước năm hai ngàn.
- Doanh số hàng năm?
- Xin bí mật! Chỉ nói với anh thế này: Thuốc của chúng tôi đã xuất khẩu sang Nga, Pháp và các nước Đông Nam Á... Chúng tôi đang liên doanh với Đài Loan và chuẩn bị có chi nhánh ở Trung Quốc, châu Phi...
   Dù Nguyễn Hữu Khai có muốn giữ bí mật về doanh thu với báo chí thì anh cũng khó giấu nổi các cơ quan thuế, bởi Công ty và các chi nhánh của anh luôn được họ đến kiểm tra và thừa nhận là một đơn vị biết quản lý kinh tế, luôn hoàn thành nghĩa vụ. Bây giờ với gần 300 công nhân chuyên sản xuất thuốc và mạng lưới tiêu thụ ở khắp đất nước, Công ty Đông Nam dược Bảo Long đã góp phần đáng kể trong việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động, tạo nhiều việc làm mở ra những triển vọng tốt đẹp. “Người Việt Nam, dùng thuốc Việt Nam” vừa tiện lợi vừa đỡ tốn kém.
   Tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều bệnh nhân được Lương y Nguyễn Hữu Khai điều trị khỏi một số bệnh mãn tính nguy hiểm mà với Tây y buộc phải phẫu thuật hoặc chỉ uống thuốc giảm đau kéo dài như bệnh trĩ, bệnh sa dạ con, ung thư cổ, tràng nhạc, hen suyễn, đau cột sống, thần kinh tọa, viêm loét dạ dày, đường ruột... Tôi cũng đã được đọc những bức thư cảm ơn đầy xúc động của ông Trần Đình Chiếu, 78 tuổi ở phố Tôn Thất Đản, của anh Đỗ Mạnh Tâm đường Bạch Đằng (thành phố Hồ Chí Minh), của các cụ ở câu lạc bộ người cao tuổi Quy Nhơn, của Trung tá Tô Văn Sính, cục Tài chính Bộ Quốc phòng... Những lá thư ấy có nội dung là cám ơn Lương y Nguyễn Hữu Khai, nhờ dùng thuốc Bảo Long mà nhanh chóng khỏi bệnh nhiều năm đau đớn và tốn kém. Có một bà Việt kiều ở Mỹ về nước với ý định cắt trĩ, cắt dạ con vì theo bà chi phí phẫu thuật ở Mỹ rất lớn, nhưng không gần gũi với người thân lỡ có mệnh hệ gì khổ lắm! Nghe cậu em ruột giới thiệu “Thầy Khai”, dù không tin vào tài năng chàng Lương y trẻ xứ Bắc kỳ, bà đã “liều” uống thuốc của Nguyễn Hữu Khai và đã hoàn toàn khỏi bệnh. Bà muốn tạ ơn thầy bằng số đôla đáng ra phải trả ở Hoa Kỳ, nhưng Nguyễn Hữu Khai đã từ chối khéo.
   Nguyễn Hữu Khai đã có công đào tạo hàng trăm học trò và phải chăng những người học trò ấy có đủ vốn liếng, kinh nghiệm đã trở thành những đại lý tin cậy của Bảo Long! Anh đã thật lòng vì họ và họ cũng hết lòng vì anh và vì cả công ty “cơ chế thị trường khốc liệt lắm. Phải biết giữ chữ tín và biết gây dựng tình nghĩa lâu bền”. Đó là điều Nguyễn Hữu Khai thường nhắc nhở công nhân cán bộ của mình.
Tôi hỏi: - Thế có ai phản lại anh không?
Nguyễn Hữu Khai bỗng tư lự hồi lâu:
- Về võ thuật thì hầu như không. Nhưng về thuốc thì cũng có đấy. Thậm chí người ta đã kiện cáo chiếm đoạt hết tài sản của tôi và còn ngăn cản anh chị em gia đình không được bán thuốc Bảo Long nữa kia.
- Người ấy ở đâu?
- Ở ngay Hà Nội thôi. Nhưng anh thấy đấy, Thủ đô của chúng ta có hàng trăm cửa hàng đang bán thuốc của Bảo Long. Một vài cá nhân ngăn cản sao nổi sự tín nhiệm của công chúng.
   Thấy tôi tò mò muốn tìm hiểu về kẻ xấu bụng đó, Nguyễn Hữu Khai đành phải nói thật:
   Đó là một câu chuyện dài, đầy cay đắng giữa tôi với một người đàn bà lớn hơn 2 tuổi nguyên là học trò của tôi. Dạo ấy do phải lao tâm, lao lực nhiều, sức khỏe tôi bị suy sụp nghiêm trọng. Tôi bị lao phổi rất nặng, tưởng khó qua khỏi. Thuốc của mình chữa cho thiên hạ thì thật hay nhưng nhiều khi không chữa nổi cho mình. Chính trong lúc suy sụp đó chị ta đã chăm sóc tôi rất tận tình. Vào một đêm mưa lạnh chị ta nằm ngoài hiên canh cửa cho tôi ngủ, sáng ra chị ta hớn hở kể cho tôi nghe một giấc mơ giống như tôi vừa mơ trong đêm, rằng có một vị tiên đã nói: “Hãy lấy đất trên cây cho chồng của con uống sẽ khỏi bệnh” nói đoạn chị ta e thẹn hai má đỏ bừng. Tôi cũng hơi ngượng nhưng rất lạ là trong mơ tôi cũng thấy một bà cụ bảo rằng: “Con còn nặng nợ với đời lắm, chưa chết được đâu. Hãy lấy đất trên cây mà uống”. Bây giờ kể lại coi như chuyện hoang đường, nhưng lúc đó, tôi chỉ bận tâm về bệnh của mình nên cố luận ra “đất ở trên cây nào thì chữa được bệnh phổi?”. Cuối cùng thì chị ta đã về quê ở Bến Tre và phát hiện đất ở trên cây chính là tổ mối làm trên ngọn dừa. Sắc lên, cái tổ mối ấy sặc mùi thuốc bắc và tôi đã khỏi bệnh. Có thể ba chữ “chồng của con” là chị ta bịa đặt, nhưng chuyện cái tổ mối chữa khỏi bệnh của tôi là có thật. Cảm tạ tấm lòng của chị ta, chúng tôi đã ăn ở với nhau và có với nhau một đứa con... Tôi những tưởng chị ta thật lòng thương tôi nên tôi đã truyền nghề rất tận tâm. Sau này, tôi đã dồn hết công sức, tiền của để đầu tư mở chi nhánh ở Hà Nội với mong muốn sản xuất thuốc Bảo Long ngay tại Hà Nội và Hà Tây để đỡ tốn chi phí vận chuyển... Công ty giao cho chị ta quản lý chi nhánh. Nhưng người đàn bà ấy vì ghen tuông và tham lam đã tự tách ra khỏi Bảo Long làm chúng tôi suýt sạt nghiệp. Nguyễn Hữu Khai dừng lại thở dài:
 - Rồi sau này chị ta còn gây ra nhiều rắc rối cho tôi...
Con đường về Mỹ Đức chạy dọc theo dòng sông Đáy đầy thơ mộng, nhưng có lẽ là con đường bị bỏ quên lâu nhất ở Hà Tây. Mặt đường như bị băm lên, xe rung bần bật. Anh Nguyễn Vĩnh Hảo, trưởng chi nhánh Bảo Long tại Hà Nội nói với tôi:
- Cậu Khai là người nặng tình nặng nghĩa với quê hương lắm, lúc nào cũng mơ ước mở mang đường xá, xóa đói giảm nghèo cho quê nhà. Năm 1995 Công ty Bảo Long đã gây dựng chi nhánh Hà Tây và đã ký hợp đồng với xã Hồng Sơn đầu tư xây dựng khu vực rừng núi Thung Cống thành nơi trồng và chế biến dược liệu trong 3 năm với tổng số tiền khoảng 25 tỷ đồng. Mỗi năm Công ty Bảo Long trả cho xã 188 chỉ vàng, tương đương 100 triệu thời điểm đó. Chi nhánh đã tuyển hơn hai trăm xã viên vào làm việc ổn định, đã bỏ ra hơn một tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất và đã gieo trồng dược liệu. Theo đề án này thì với 200 héc-ta đất, số dược liệu không chỉ đủ dùng cho Bảo Long mà còn có khả năng xuất khẩu và mở dịch vụ thắng cảnh, du lịch với sự đầu tư của Bảo Long và cả Công ty nước ngoài.
   Qua tìm hiểu, tôi biết hầu hết nhân dân xã Hồng Sơn đều tỏ ra phấn khởi không chỉ vì có công ăn việc làm ổn định mà còn nhận ra tương lai tốt đẹp sẽ đến từ cơ sở sản xuất dược liệu. Nhưng do nội bộ lục đục và nhận thức thiển cận của ông Chủ tịch huyện, một số phần tử quá khích đã hành hung công nhân viên Bảo Long và ngang nhiên đập phá. Báo Công an nhân dân và nhiều tờ báo khác đã có hàng loạt bài lên án sự kiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng này. Dù những tên phá hoại có bị xử lý thế nào thì tiền bạc của Bảo Long bỏ ra cũng không thể lấy lại được. Nhưng nỗi đau lớn nhất của Lương y Nguyễn Hữu Khai là lòng tốt của mình, tình cảm của mình một lần nữa lại bị từ chối. Tôi bỗng nhớ đến nhiều chuyện đau lòng từ những làng quê nghèo đói của chúng ta chỉ vì một chút hiềm khích, một thói ích kỷ, thiển cận mà đã kéo chậm tiến trình phát triển của cả cộng đồng và làm mất đi tấm lòng của những người con xa quê muốn góp công góp sức cho quê nhà đành phải ngậm ngùi bất lực. Nhưng với Nguyễn Hữu Khai anh không thể “dứt tình” với quê được. Anh đã cho xây lại chùa làng, rước tượng Phật từ Sài Gòn về tặng. Rồi chính anh, mỗi lần về quê lại đem theo vài chục học sinh không thi đỗ đại học, đưa vào Công ty dạy nghề, tạo công việc và cho theo học các lớp tại chức. Tôi đã gặp các vị chức sắc ở Mỹ Đức, ở Hà Đông. Họ đều lấy làm tiếc vì vụ việc đã xảy ra giữa Bảo Long và một số người ở xã Hồng Sơn và đều có ý mong Bảo Long làm lại thủ tục. Tôi hỏi Nguyễn Hữu Khai. Anh trầm ngâm hồi lâu:
- Tôi cũng muốn thử một lần nữa lắm! Nhưng đồng tiền của Công ty Bảo Long có phải “tiền chùa đâu?”. Làm đến bao giờ mới bù lại được những thất thoát không thể giải trình trong hạch toán?
- Nguyễn Hữu Khai dẫn tôi đến thăm họ hàng và bạn bè của anh. Ai cũng muốn gửi thêm con cháu vào Bảo Long và thế là hôm sau anh lếch thếch ra ga Hàng Cỏ cùng một đội quân choai choai. Anh nhường chiếc ôtô Camry đời mới cho chúng tôi đi vào Sài Gòn. Tính anh vẫn cẩn thận chu đáo thế. “Người ta tin mình, gửi con cháu cho mình thì mình phải trông nom chúng chứ thời buổi này để các cháu tự đi không yên tâm”.
   Tôi đã tiếp xúc với nhiều vị tổng giám đốc, giám đốc các doanh nghiệp lớn nhưng chưa bao giờ tôi gặp một tổng giám đốc bình dị, chu đáo và sống tình nghĩa với học trò, với công nhân viên như Nguyễn Hữu Khai. Anh căn cơ từng xu, nhưng sẵn sàng bỏ của riêng mình hàng chục triệu giúp cho những gia đình công nhân khó khăn. Anh luôn luôn lắng nghe và chịu khó học hỏi. Vừa đi Pháp về anh đã lại đi Đài Loan và chuẩn bị cho một cuộc khảo sát thị trường châu Phi. Ấy vậy mà anh vẫn có bài đăng báo đều đều trên tờ Sức khỏe và Đời sống, tờ Thể thao và Tạp chí Võ thuật Việt Nam... Đã bắt đầu nổi tiếng môn phái “Bảo Long y võ” do anh làm Chưởng môn và Nguyễn Hữu Khai đã được bầu vào Ban chấp hành hội Võ thuật Việt Nam...
Tổng biên tập Lê Thấu đột ngột xuất hiện:
- Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!
Tôi ngớ ra, nhìn Khai:
- Anh lại cưới vợ thật đó à?
- Vâng... Cuối cùng thì cũng phải “đi bước nữa" thôi!
Nguyễn Hữu Khai nhấp nhỉnh cười rồi thành thực tiếp:
- Lại cũng gian truân lắm! Nào là gia đình họ hàng của “cô ấy”chưa thông cảm. Nào là người đàn bà kia lại rấp tâm phá hoại ....vân vân và vân vân...
“Cô ấy” là Lê Thúy Hằng một sinh viên kinh tế xinh đẹp, trẻ trung của Bảo Long đang theo học năm cuối khoa quản trị kinh doanh. Thúy Hằng là một trong những hoa khôi của đất Ba Vì được tuyển vào Bảo Long từ buổi đầu ở Hà Tây. Cô đã thật lòng thương yêu chàng Lương y Giám đốc luôn vất vả vì sự tồn tại và phát triển của Bảo Long, luôn nặng tình nặng nghĩa với quê hương Hà Tây. Tình yêu và ý chí của cô đã chinh phục con người sống rất nguyên tắc và mải mê công việc đến khô khan. Nguyễn Hữu Khai hình như thay đổi hẳn cả tính nết, trẻ lại, sôi nổi và đằm thắm! Hằng đã vượt qua mọi ngăn cản kể cả sự kiện tụng của người đàn bà đã từng chung sống với Nguyễn Hữu Khai không hôn thú một thời.
Vào đúng ngày đám cưới, ông Giám đốc Bảo Long phải ra Ủy ban nhân dân xã Xuân Thới Thượng giải trình mối quan hệ cũ của mình. Người đàn bà kia cuối cùng cũng tỏ ra biết điều, đã lại trở về Bảo Long nhờ giúp đỡ. Dẫu vậy, đội bảo vệ vẫn được tăng cường kết hợp cùng đội dân phòng điạ phương để hôn lễ của Khai – Hằng trở thành một ngày hội của công nhân cán bộ Công ty Đông Nam dược Bảo Long tổ chức tại khuôn viên Công ty ở Hóc Môn. Ông Lê Thấu cười bảo tôi: “Chuyện tình của tay này thế mà có hậu!”. Tôi chú ý quan sát gương mặt cô dâu với cặp mắt huyền trong sáng và làn môi tươi tắn. Nàng rạng rỡ cười thỏa mãn trước hai họ. Đó là một phụ nữ thông minh rất tự tin, luôn kiêu hãnh về người chồng tài hoa của mình.
6 -1998
V.K.N

 


 
MỤC LỤC
Lời nói đầu......................................................................
Tình quê...........................................................................
Tình quê trong lòng bạn đọc
Người hiếm hoi sáng tác thể truyện thơ...........................
Trong sáng một “Tình quê” – tình người...........................
Đọc “Tình quê” nghỉ về một thể loại truyện thơ................ 
Thế võ và thuật y trong một truyện thơ hiện đại.............. .
Tình người qua một truyện thơ........................................ 
Lời cảm nhận về truyện thơ “Tình quê”.......................... 
Trân trọng và đồng cảm với lời nói đầu .......................... 
của truyện thơ “Tình quê”
“Tình quê” một truyện thơ đặc sắc.................................. 
Cảm nhận “Tình quê”..................................................... 
Thơ anh nặng một chữ tình............................................. 
Cảm xúc về “Tình quê”.................................................. 
Giới thiệu tác giả qua một chuyện ký
Chuyện một Lương y...................................................... 


 


 
 
 


 
 
 


 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
Tags:
Giỏ hàng của tôi (0)